Còn nếu không xin được việc bạn tôi sẽ phải trả lại đầy đủ số tiền đã cầm của tôi. Tiền tôi giao 50 triệu đồng đầu tháng 2/2015 thỏa thuận thì đầu tháng 4/2015 đi làm nhưng chờ mãi đến tháng 8/2015 vẫn cứ chỉ một lời hứa. Tôi nghi ngờ bị lừa nên nói không làm ở đó nữa mà xin lấy lại tiền nhưng sau nhiều lần khất hứa bạn tôi cũng không trả cho tôi. Giờ tôi muốn tố cáo để nhờ công an can thiệp để lấy lại tiền thì tôi phải làm sao. Hiện tại tôi biết số CMND và nơi thường trú của người này nhưng tôi không biết giờ bạn tôi đang ở đâu. Đến cơ quan thì người ta nói không có ai tên đó làm ở đây. Chổ trọ ở cũ đã chuyển đi ?

Rất mong luật sư tư tư vấn giải đáp giúp tôi!

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: K.B

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới thư mục tư vấn của công ty luật Minh Khuê, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 

Luật tố cáo số  03/2011/QH13   

2. Nội dung tư vấn:

Điều 139 Bộ luật Hình sự quy định :

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm."

Có thể thấy cấu thành tội phạm của tội này như sau:

Thứ nhất, mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động …

Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
b) Dấu hiệu khác
Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Thứ hai, khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Thứ ba,  mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Dựa trên những yếu tố này, có thể nhận thấy, việc bạn anh nói dối về việc làm và chỗ làm là hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin giả nhằm làm anh tin vào đó để anh giao tiền cho anh ta rồi chiếm đoạt tài sản của anh. Bạn anh đã chiếm đoạt của anh số tiền là 50 triệu đồng. Từ những dấu hiệu trên thì bạn anh có thể bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điều 139 Bộ luật Hình sự 1999.

Để tố cáo người bạn trên của anh, anh có thể tham khảo những quy định của pháp luật về tố cáo và tố tụng hình sự như sau:

1. Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố giác tội phạm:

- Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Luật tố cáo 2012  quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.”

Tuy nhiên theo quy định tại Điều 3 Luật tố cáo 2011 về việc áp dụng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo:

“1. Việc tố cáo của cá nhân nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

2. Việc tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

3. Trường hợp luật khác có quy định khác về tố cáo và giải quyết tố cáo thì áp dụng quy định của luật đó.”

Theo đó nếu một người có hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản thì bạn phải tố giác theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự theo Khoản 2, điều 3 Luật tố cáo như trên.

Như vậy, bạn có thể thực hiện việc tố giác người này ra cơ quan có thẩm quyền quy định tại   Điều 101 BLTTHS “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.”

- Theo quy định tại khoản 4, Điều 110 BLTTHS quy định về thẩm quyền điều tra:

“4. Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.”

Như vậy theo các quy định trên thì bạn có thể gửi đơn tố giác hoặc trực tiếp đến cơ quan điều tra; viện kiểm sát; tòa án hoặc cơ quan khác nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi phát hiện tội phạm hoặc nơi người có hành vi vi phạm cư trú để tố giác về hành vi lừa đảo này.

* Áp dụng vào trường hợp của bạn thì bạn xác định xem người mà có hành vi lừa đảo này tại địa bàn nào, hoặc nếu không xác định được rõ nơi xảy ra hành vi lừa đảo thì bạn có thể tố giác người này ra cơ quan công an nơi người này cư trú theo hộ khẩu thường trú là Hà Nam.

2. Thủ tục và thời gian giải quyết:

Theo quy định tại Điều 103 BLTTHS quy định cụ thể thời gian giải quyết tố giác và cơ quan có thẩm quyền giải quyết cụ thế như sau:

"Điều 103. Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

3. Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

4. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.”

Như vậy bạn có thể áp dụng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự như trên để ra các cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo điều 101 BLTTHS. Tuy nhiên khi ra tố giác bạn cần phải có thêm một số bằng chứng chứng minh về hành vi vi phạm của người này có thật trên thực tế (giấy tờ đưa trước 50 triệu đồng) thì cơ quan có thẩm quyền sẽ có căn cứ điều tra vấn đề mà bạn tố giác.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.6162  hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê