Tại hiện trường chỉ có lời khai của bạn tôi và bố của anh ta, khai là nhìn thấy con trai mình nhận ma tuý từ người khác. Tôi muốn hỏi là việc bố anh ấy đứng ra làm chứng có hợp pháp không? Người đưa ma tuý cho anh ta có bị coi là đồng phạm không?
Kinh thư!
Người gửi: L.K

>> Luật sư tư vấn luật hình sự, gọi: 1900 6612

 

Trả lời

1. Cơ sở pháp luật:

- Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009;

- Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

2. Nội dung phân tích:

Thứ nhất, để biết được việc bố của bạn anh đứng ra làm chứng có hợp pháp hay không? Cần căn cứ vào Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

“Điều 55. Người làm chứng

1. Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng.

2. Những người sau đây không được làm chứng:

a) Người bào chữa của bị can, bị cáo;

b) Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

3. Người làm chứng có quyền:

a) Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;

b) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

c) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.

4. Người làm chứng có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;

b) Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án.

Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo  Điều 308 của Bộ luật hình sự; khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo  Điều 307 của Bộ luật hình sự”.

Theo đó, việc bố của bạn anh đứng ra làm chứng là hợp pháp nếu như không thuộc vào một trong hai trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 55 trên.

Thứ hai, để biết được bạn anh và người thực hiện hành vi đưa ma túy cho bạn của anh có phải là đồng phạm hay không? Anh cần biết đến những dấu hiệu pháp lí về đồng phạm sau đây:

1. Những dấu hiệu về mặt khách quan

Mặt khách quan, đồng phạm đòi hỏi có hai dấu hiệu:

- Có từ 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm: theo đó, đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người và hai người này phải có đủ điều kiện của chủ thể tội phạm. Đó là điều kiện có năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS. Dấu hiệu chủ thể đặc biệt không đòi hỏi phải có ở tất cả những người đồng phạm mà chỉ đòi hỏi ở một loại người đồng phạm là người thực hành.

- Những người này phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý). Cùng thực hiện tội phạm có nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi sau:

+ Hành vi thực hiện tội phạm (thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP). Người có hành vi này được gọi là người thực hành;

+ Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm ( tổ chức thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP). Người có hành vi này được gọi là người tổ chức;

+ Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (xúi giục người khác thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP). Người có hành vi này được gọi là người xúi giục;

+ Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (giúp sức người khác thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP). Người có hành này được gọi là người giúp sức.

Nếu không có một trong những hành vi này thì không thể coi là cùng thực hiện và do vậy cũng không thể là người đồng phạm được.

Trong vụ đồng phạm có thể có đủ bốn loại hành vi tham gia nhưng cũng có thể chỉ có một loại hành vi. Người đồng phạm có thể tham gia với một loại hành vi nhưng cũng có thể tham gia với nhiều loại hành vi khác nhau. Họ có thể tham gia từ đầu nhưng cũng có thể tham gia khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa kết thúc.

Bằng những hành vi cụ thể như vậy, những người tham gia vào vụ đồng phạm đều có hành vi nguy hiểm cho xã hội. Những hành vi đó được thực hiện trong mối liên kết thống nhất với nhau. Hành vi của mỗi người là điều kiện hỗ trợ cho sự hoạt động chung. Có thể tất cả những người đồng phạm đều cùng trực tiếp thực hiện tội phạm và tổng hợp những hành vi của họ tạo thành hành vi phạm tội có đủ những dấu hiệu CTTP nhất định. Nhưng cũng có thể chỉ có một hoặc một số người trực tiếp thực hiện tội phạm còn những người khác chỉ có hành vi góp phần vào việc thực hiện tội phạm. Hậu quả của tội phạm là kết quả chung do hoạt động của tất cả những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm đưa lại. Giữa hành vi của mỗi người và hậu quả của tội phạm đều có quan hệ nhân quả. Hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả còn hành vi của những người khác (tổ chức, xúi giục, giúp sức) thông qua hành vi của người thực hành mà gây hậu quả.

2. Những dấu hiệu về mặt chủ quan:

Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý. Ngoài ra, đối với những tội có dấu hiệu mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện phải có cùng mục đích phạm tội đó.

- Dấu hiệu lỗi

Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác. Lỗi cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai mặt lí trí và ý chí như sau:

+ Về lí trí: mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. Nếu chỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội với mình thì chưa thỏa mãn dấu hiệu lỗi cố ý trong đồng phạm và do vậy chưa phải là đồng phạm. Về lí trí, mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện.

+ Về ý chí: những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. Những trường hợp không mong muốn có sự liên kết hành vi để cùng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội như trường hợp nhiều người cùng múc trộm dầu trong bể chứa của cơ quan nhưng giữa họ không có sự rủ rê nhau là những trường hợp phạm tội riêng lẻ. Cũng là trường hợp phạm tội riêng lẻ, khi các hậu quả mà những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mong muốn không đồng nhất với nhau.

- Dấu hiệu mục đích

Ngoài những dấu hiệu cùng thực hiện và cùng cố ý, đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích trong trường hợp đồng phạm những tội có mục đích là dấu hiệu bắt buộc. Ví dụ: đồng phạm những tội thuộc Chương IX – Các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Được coi là cùng mục đích khi những người tham gia đều có chung mục đích được phản ảnh trong CTTP hoặc biết rõ và tiếp nhận mục đích đó. Trường hợp người chở thuê cho những người khác trốn đi nước ngoài, mặc dù đã biết rõ những người này có mục đích chống lại chính quyền nhân dân là ví dụ về trường hợp biết rõ và tiếp nhận mục đích của nhau.

Nếu không thỏa mãn dấu hiệu cùng mục đích sẽ không có đồng phạm. Trong trường hợp này, những người tham gia sẽ chịu TNHS độc lập với nhau. Ví dụ: A thuê B giết người cán bộ với mục đích chống lại chính quyền nhân dân nhưng B không biết mục đích đó. Trong trường hợp này không có đồng phạm khủng bố (Điều 84 BLHS).

Như vậy , trong trường hợp trên nếu như bạn anh và người đưa ma túy cho bạn  cố ý cùng thực hiện một tội phạm" hay nói cách khác là giữa hai người phải có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí về hành vi phạm tội, mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và cũng biết người khác đang thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội giống mình thì sẽ được coi là đồng phạm.

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê