Tuy nhiên, do chủ quan và thiếu hiểu biết nên đã bị người bạn đồng nghiệp mượn máy rồi đưa lên mạng xã hội (zalo). Mấy ngày hôm sau, ông Nguyễn Vi Vượng (người làm cùng cơ quan nhưng đã về hưu) có làm đơn tố cáo chồng tôi với cơ quan công an với tội danh: " Xúc phạm nhân phẩm, danh dự" của ông ta. Chồng tôi đã bị công an mời xuống Phường làm việc. Nhưng do thiếu hiểu biết về pháp luật, không có kinh nghiệm khi tiếp xúc với cán bộ điều tra nên chồng tôi đã bị công an hướng vào tình huống bất lợi. Đó là tự nhận nhờ người đăng bài thơ lên mạng xã hội do hiếu kỳ. Vậy tôi xin hỏi :

1. Trong bài thơ không nói rõ tên, tuổi, địa chỉ, nơi công tác của ông Nguyễn Vi Vượng. Hay nói cách khác là bài thơ không chỉ đích danh 1 ông Vượng cụ thể nào đó thì bài thơ này có được coi là xúc phạm nhân phẩm danh dự của Ông Nguyễn Vi Vượng hay không?

2. Như vậy thì Ông Nguyễn Vi Vượng có căn cứ, cơ sở để làm đơn tố cáo chồng tôi hay không? Chồng tôi có vi phạm gì hay không? Nếu có thì tội trạng ở mức độ nào? Nếu chưa đủ cơ sở, căn cứ, bằng chứng để tố cáo chồng tôi mà ông Vượng làm đơn gửi công an Phường đồng thời công an Phường thụ lý vụ việc này thì Ông Vượng có phạm tội vu khống cho người khác hay không?

 Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: P.T.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn về tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác qua mạng xã hội ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999

Nội dung phân tích:

Về câu hỏi thứ nhất:

Điều 121 BLHS quy định Tội làm nhục người khác:

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm….” Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể thực hiện bằng lời nói hoặc bằng hành động. Thông thường lời nói được sử dụng là lời nói có tính chất miệt thị, sỉ nhục người khác, hành động được sử dụng có tính chất bỉ ổi, sỉ nhục người khác. Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì bài thơ này không nói lên danh tính cụ thể, mặt khác nội dung bài thơ không có tính chất miệt thị, xúc phạm… chủ thể cụ thể nào. Bởi vậy, trường hợp này không có đủ căn cứ để cấu thành hành vi xúc phạm nhân phẩm danh dự người khác.

Về câu hỏi thứ hai:

Do chồng bạn đã khai nhận đã chủ động nhờ người khác đăng tải bài thơ lên mạng xã hội, nên có thể hành vi này được coi là hành vi xâm phạm quyền đối với tác phẩm của tác giả của bài thơ này. Bởi vậy, chồng bạn có thể sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với tác giả của bài thơ này về việc đã công bố tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả.

Điều 122 BLHS quy định Tội vu khống:

 “1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm…”

Như vậy, trường hợp này không đủ yếu tố để cấu thành tội vu khống đối với ông Vượng. Tuy nhiên, quyền tố cáo là quyền của công dân, do vậy, nếu có căn cứ cho rằng cá nhân nào có hành vi vi phạm pháp luật thì công dân sẽ có quyền tố cáo và cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết. Song những căn cứ đó có chính xác hay không thì Cơ quan có thẩm quyền thụ lý sẽ có trách nhiệm xác minh, làm rõ. Bởi vậy, nếu việc đăng tải bài thơ không xâm phạm đến danh sự nhân phẩm của người khác thì cơ quan công an sẽ sớm ban hành quyết định để làm rõ vụ việc.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ.