Lúc đầu chị em không cho, nhưng sau 1 hồi năn nỉ, chị em yếu lòng đã chuyển tiền. Tiếp theo hắn bảo có hợp đồng lớn trị giá nhiều tiền, cần hỗ trợ về thuế, phí...và dần dần chị em sa vào bẫy phải chuyển tiền nhiều đợt cho hắn. Vào lúc đầu chị em chuyển hết tiền của mình, rồi sau đó vay mượn từ nhiều đồng nghiệp, lãnh đạo trong công ty. Tất cả những lần chuyển tiền đều vào những tài khoản ngân hàng việt nam khác nhau do người việt nam đứng tên. Tới gần đây, khi dần phát hiện mình bị lừa, thì chị em bị 1 lãnh đạo tại công ty bắt kí đơn vay tiền. Nội dung đơn: tôi tên..., vay của..., sẽ trả vào ... và có đóng dấu vân tay của chị em. Lúc ký đơn không có sự hiện diện của những người cho vay khác cũng như không có chữ ký của họ. Thời điểm kí đơn, chị em đang cực kì hoảng loạn và đơn cũng chỉ có 1 bản do bên kia giữ ( Việc vay tiền của nhiều người trước đó không có kí đơn gì cả ).

HIện tại chị em đã trình báo cơ quan công an để giải quyết. Vấn đề em muốn được giải đáp là liệu chị em có buộc phải đền số tiền vay của đồng nghiệp ( số tiền rất lớn) nếu như chị em bị lừa đảo, khi bản thân cũng bị mất 1 số tiền lớn. Và tính hợp pháp của đơn vay nợ trên. Bản thân chị không muốn trốn tránh nợ nhưng thật sự quá sức mình, việc đòi lại số tiền từ tên lừa đảo dường như vô vọng... Em mong muốn luật sư cho được giải đáp cũng như phương hướng giải quyết tốt nhất.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi:N.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn về hành vi lừa đảo trực tuyến, goi:1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty luật Minh Khuê,với thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009

2. Nội dung tư vấn:

- Hợp đồng có hiệu lực hay không?

Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005:

 "Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Bộ luật Dân sự không yêu cầu cụ thể về hình thức của hợp đồng vay tài sản, do đó giao dịch vay tài sản có thể được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.Như vậy, hợp đồng vay tiền được xác lập giữa chị bạn và 1 lãnh đạo công ty và có dấu vân tay của chị bạn thì về hình thức hợp đồng vay tiền đó là hợp pháp.Nhưng theo quy định tại điều 122 bộ luật dân sự quy định hợp đồng vay tiền chỉ có hiệu lực khi đủ các điều kiện sau:

Điều 122 Bộ luật Dân sự, hợp đồng vay tiền có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:

1. Các bên tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự.

- Đối với cá nhân, Theo quy định chung, người xác lập, thực hiện hợp đồng vay tài sản phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Đó là người từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không mất năng lực hành vi dân sự. Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 20 Bộ luật Dân sự, người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng có thể tự mình xác lập và thực hiện hợp đồng nếu có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

3. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Hợp đồng vay tiền phải được ký kết dựa trên sự tự nguyện, ý chí chủ quan của các bên tham gia. Nếu hợp đồng được xác lập không dựa trên ý chí tự nguyện của một trong các bên thì hợp đồng đó vô hiệu. Bộ luật Dân sự quy định các trường hợp giao dịch vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể:

+ Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 129)

+ Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131)

+ Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132)

+ Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 133)

Căn cứ vào điều luật trên cho thấy chị bạn bị lãnh đạo công ty bắt ký vào hợp đồng vay tiền cho thấy hợp đồng vay tiền đó xác lập không dựa trên ý chí tự nguyện của chị bạn hơn nữa chị bạn xác lập hợp đồng khi không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình  do đó hợp đồng chị bạn đã xác lập dù hợp pháp về hình thức nhưng vẫn vô hiệu.

- Nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

 Theo quy định tại điều 471 quy định trên thì hợp đồng vay tài sản có thể được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể do đó những lần chị bạn vay tiền của đồng nghiệp bằng miệng thì hợp đồng vay tiền bằng miệng đó vẫn phát sinh hiệu lực và chị bạn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại điều 474 trên.Khi chị bạn không có khả năng thanh toán nợ thì bên cho vay có quyền gửi đơn khởi kiện về việc đòi lại tài sản đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú để được giải quyết. Tuy nhiên, đối với trường hợp này, khi chị bạn không có bất kỳ một tài sản nào để có thể thanh toán khoản nợ vay thì bên cho vay sẽ phải chịu rủi ro trong trường hợp này.

- Hành vi lừa đảo của người xưng quốc tịch Anh.

Theo điều 139 bộ luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Theo thông tin bạn cung cấp thì chị bạn quen người mang quốc tịch anh qua mạng và mọi lần chuyển tiền đều qua các ngân hàng việt nam khác nhau điều đó cho thấy người mà chị bạn nói chuyện có thể không phải là người mang quốc tịch anh mà là người Việt Nam vì thể để bảo vệ tối đa quyền lợi của chị bạn thì chị bạn nên gửi đơn yêu cầu tới cơ quan có thẩm quyền yêu cầu điều tra xem xét vụ việc để tìm ra người mà chị bạn đã gửi tiền.Theo quy định tại điều 139 bộ luật hình sự trên thì người tự xưng mang quốc tịch anh đó có dấu hiệu phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do đó tùy vào mức hậu quả xảy ra thì ngoài việc phải trả lại số tiền mà chị bạn đã gửi qua thẻ ngân hàng cho anh ta mà anh ta còn phải chịu mức phạt theo quy định tại điều luật 139 quy định trên .

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê