Trong khi bắt vụ lô đề trước đó không có bạn tôi, sau khi thẩm vấn chủ đề cơ quan công an đã triệu tập bạn tôi đến làm việc, khi bị bắt ngoài lời khai của người bị bắt, thì cơ quan công an không tìm thấy chứng cứ gì khác! Xin luật sư tư vấn giúp tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn về việc công an triệu tập do nghi ngờ tham gia tổ chức đánh bạc

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999 

Bộ luật Tố tụng hình  sự 2003 

2. Nội dung phân tích:

Trên cơ sở trình bày của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn về Tội đánh bạc và hoạt động triệu tập lấy lời khai của Cơ quan điều tra:

Căn cứ Điều 248 Bộ luật hình sự. Tội đánh bạc 

1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;
c) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.
Như vậy, khi có hành vi đánh bạc Cơ quan có thẩm quyền sẽ khởi tố vụ án và tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ trong đó có cả biện pháp triệu tập lấy lời khai. Cụ thể:

Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003. Chứng cứ

1. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

2. Chứng cứ được xác định bằng:

a) Vật chứng;

b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Kết luận giám định;

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Điều 65 BLTTHS quy định. Thu thập chứng cứ

1. Để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.

2. Những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.

Theo đó, việc triệu tập bạn của bạn để lấy lời khai là hoạt đông thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra nhằm mục đích xác định sự thật vụ án. Nếu sau khi điều tra, không có căn cứ kết luận tội phạm thì người bạn của bạn sẽ được thả ra ngoài.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê