Ông N và bà D nói xin việc cho tôi làm giao dịch viên tại ngân hàng SHB. Đến ngày 15.1.2016 tôi chính thức đi làm và hứa không xin được hoàn trả đầy đủ tiền cho gia đình tôi. Và gọi điện thoại bảo gia đình tôi giao 140 triệu đồng, gia đình tôi đã giao đủ cách đây gần 3 tháng có đầy đủ giấy tờ, tin nhắn của ông Nguyễn xác nhận việc xin việc, nhưng nay đã qua ngày đi làm tôi chưa nhận được việc. Gia đinh tôi xin lại tiền thì không trả. Sau bảo chỉ trả 70 triệu. Gia đình tôi không đồng ý vì tiền đi vay và gia đình mẹ đã già đi chợ góp nhặt từng đồng. Ông N cậy cấp cao thách thức gia đình kiện sẽ kiện ngược lại đổ tội cho gia đình tôi tội vu khống. Xin luật sư tư vấn giúp cháu vì nhà cháu không hiểu rõ luật và vừa thoát khỏi hộ nghèo chỉ vì muốn cháu được ổn định tin tưởng vào họ hàng cũng như chức danh bộ đội mà vay mượn giao tiền ạ ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự: 1900 6162

Trả lời:
Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

I Cơ sở pháp lý

 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

Văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự dân sự 

II. Nội dung tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn có nhờ ông Nguyễn  xin việc hộ và đã giao cho ông ấy  số tiền là 140 triệu đồng, nhưng sau khi nhận tiền thì ông Nguyễn không giúp được mà cũng không trả lại tiền,

Với hành vi này của ông Nguyễn tùy thuộc vào các tình tiết trên thực tế mà có thể cấu thành tội  lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc cũng có thể chỉ là hành vi vi phạm pháp luật dân sự thông thường.

Như vậy thì ông Nguyễn đã lợi dụng sự tín nhiệm của bạn tin tưởng ông ấy là trưởng phòng kế toán của Bộ Quốc Phòng và ông ấy có quan hệ với bà Dung có thể xin việc được cho bạn nhưng nay lại không xin được việc và cũng không trả lại tiền.Nếu như trước khi nhận tiền,ông ấy không có thủ đoạn gian dối mà sau khi nhận tiền của bạn, ông ấy không xin được việc rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đó thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Ngoài ra bạn có thể khởi kiện ông Nguyễn về tội nhận hối lộ theo quy đinh tại khoản 1,2,3 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

"1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

đ) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

Thứ nhất ông ấy có thể phạm tội quy định tại khoản 2d Điều 140 của bộ luật hình sự bên trên và tội hói lộ theo quy định tại Điều 279 .Trường hợp này thì bạn có thể tố cáo tội phạm ra cơ quan công an gần nhất để được giải quyết.

Thứ hai:Trường hợp ông ấy nhận tiền của bạn và mãi không xin được việc và cũng không trả lại tiền thì ông ấy có thể vi phạm nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005.Trong trường hợp này thì bạn có  thể khởi kiện ra tòa án để yêu cầu giải quyết (đòi lại số tiền mình đã đưa cho ông ấy).Tranh chấp giữa bạn và ông ấy là tranh chấp về hợp đồng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 điều 25 Văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự. Bạn hãy gửi đơn đến tòa án để được giải quyết kèm theo các giấy tờ hợp đồng giao dịch theo quy định tại Điều 164,165 Văn bản hợp nhất bô luật tố tụng dân sự

Điều 164 Hình thức nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

3. Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Điều 165 Tài liệu ,chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự.