Hai đối tượng không dừng lại mà còn xông vào trong nhà mở tủ lấy chìa khoá xe máy của anh tôi đút túi. Đến khi dân làng xung quanh sang thì hai đối tượng đó mới dừng lại gia đình tôi đã báo công an xã đến làm việc khi công an xã đến chỉ hỏi hai đối tựơng kia lý do đến đây làm gì không nhắc gì đến vụ việc đánh người và hành vi trộm cắp ở nhà tôi. Gia đình tôi thấy thế liền nhắc nhở công an xã làm đúng theo pháp luật thì công an xã gạt đi và đòi đưa người lên xã làm việc. Trước khi công an đưa hai đối tượng lên xã gia đình tôi có yêu cầu công an phải lập biên bản ban đầu để làm bằng chứng xong mới cho người đi. Nhưng công an xã không lập biên bản mà cứ thế đưa người đi. Ngay sau đó gia đình tôi đem đơn tố cáo lên công an xã thì không thấy hai đối tựơng kia đâu. Tôi hỏi công an thì được trả lời là công an xã không có quyền giữ người và đã thả họ về. Sự việc trên xin luật sư tư vấn cho tôi phải làm thế nào để bắt hai đối tượng trên chịu sự trừng phạt của pháp luật và công an xã làm như vậy có đúng pháp luật không. Xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự năm1999 sửa đổi bổ sung 2009

Pháp lệnh công an xã

2. Nội dung tư vấn:

Căn cứ vào Điều 104 Bộ luật hình sự như sau:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Trong trường hợp của anh bạn, 2 kẻ hành hung tuy không đánh chị dâu bạn và cháu nhỏ thành thương tích lên tới 11% sức khỏe, nhưng đã thuộc trường hợp phạm tội với trẻ em theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự nên hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh này. Ngoài ra, có thể căn cứ vào Điều 133 về tội cướp tài sản như sau:

Điều 133. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khíphương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Đối với việc 2 người lạ công nhiên rút chìa khóa xe máy của anh bạn, tuy không có hành vi sử dụng vũ lực, nhưng xét thấy, từ việc hai người đó liên tục chửi bới, phá phách khi vào nhà anh bạn, thậm chí còn hành hung chị dâu và cháu nhỏ. Với thái độ như vậy có thể xem là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nếu như anh trai bạn ngăn cản không cho lấy chìa khóa. Như vậy, có thể nói trong tình trạng như vậy anh trai bạn bị đe dọa nên không thể chống cự được; hậu quả là hai người kia đã lấy mất chìa khóa xe máy. Về mục đích chiếm đoạt tài sản: như bạn đã nói ở trong thư, hai người kia vào nhà với mục đích đòi anh bạn trả nợ, do đó hành vi lấy chìa khóa xe máy chính là hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm xiết nợ, hoặc buộc anh bạn phải trả nợ. Hành vi này hoàn toàn có thể cấu thành tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự.

Bên cạnh đó, hành vi chửi bới, xúc phạm đến anh trai bạn và gia đình bạn còn có thể cấu thành tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự như sau:

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Đối với hành động của công an xã: Căn cứ vào Điều 9 Pháp lệnh công an xã năm 2008 như sau:

Điều 9. Nhiệm vụ, quyền hạn của Công an xã

6. Tiếp nhận, phân loại, xử lý theo thẩm quyền các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã; kiểm tra người, đồ vật, giấy tờ tùy thân, thu giữ vũ khí, hung khí của người có hành vi vi phạm pháp luật quả tang; tổ chức cấp cứu nạn nhân, bảo vệ hiện trường và báo cáo ngay cho cơ quan có thẩm quyền; lập hồ sơ ban đầu, lấy lời khai người bị hại, người biết vụ việc, thu giữ, bảo quản vật chứng theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an; cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng, thông tin thu thập được và tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền xác minh, xử lý vụ việc.

Như vậy, công an cấp xã, phường có nhiệm vụ và quyền hạn đối với việc giữ gìn duy trì trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Việc kiểm tra, mời hai người gây rối về trụ sở làm việc là đúng thẩm quyền. Bên cạnh đó, tạm giữ, tạm giam phải tuân thủ điều kiện nghiêm  ngặt do pháp luật quy định, trong trường hợp này không thể tạm giữ hoặc tạm giam hai người đó nên việc làm của công an xã bạn là không trái pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật hình sự.