Sau khi thỏa thuận hai  bên có làm hợp đồng thuê xe và kèm theo biện pháp ký cược chiếc nhẫn, bà Hoa có giao xe cho chị Hương và chị Hương cũng đã giao lại chiếc nhẫn kim cương của mình cho bà Hoa. Ngày 10.2.2012, sau chuyến du lịch của gia đình, chị Hương có mang xe đến trả cho bà Hoa thì bà Hoa không có nhà. Chị lại đánh xe về sau khi liên lạc và nhận được sự đồng ý của bà Hoa kéo dài thêm hai ngày nữa do bà có việc gia đình chưa thể về được. Ngày 12.2.2012, chị Hương lại tiếp tục liên lạc với bà Hoa với mục đích hẹn gặp để trả xe, tiền thuê xe cho bà nhưng không liên lạc được. Chị Hương có đến nhà nhưng cũng không gặp được. Nhiều lần sau đó không gặp được, chị Hương phát hiện ra là bà Hoa không muốn gặp cũng như không muốn nhận lại chiếc xe của mình mà thay vào đó bà muốn giữ lại chiếc nhẫn kim cương của chị. Ngày 12.5.2012, bất ngờ chị Hương gặp lại bà Hoa tại một cửa hàng. Sau khi trao đổi qua lại, chị Hương mới biết được bà Hoa đã bán chiếc nhẫn kim cương của chị với giá 2,3 tỷ đồng cho người khác và ngỏ ý muốn sang tên chiếc xe Audi cho mình nhưng không hoàn lại giá trị chênh lệch. Về phần mình, chị Hương không chấp nhận, phần vì đó là kỷ niệm của chồng chị, phần vì giá trị của chiếc nhẫn lại lớn hơn chiếc ô tô của bà Hoa nên chị yêu cầu được trả lại xe và nhận lại chiếc nhẫn đó. Giải quyết như thế nào ạ

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009

-Bộ luật dân sự năm 2005

2.Nội dung tư vấn

Để giải quyết trường hợp này, có thể đi theo hai hướng, theo pháp luật hình sự hoặc theo pháp luật dân sự

Thứ nhất, về mặt pháp luật hinh sự

Theo quy định tại Điều 140 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng 

nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, 

thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; 

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản"

Cụ thể theo điểm a, Khoản 1 Điều 140 thì chiếu theo trường hợp này, ta có thể thấy chị Hoa đã nhận tài sản của chị Hương là một chiếc nhẫn kim cương có trị giá gần 2,5 

tỷ đồng từ một hợp đồng thuê xe, sau đó dùng thủ đoạn gian dối đó chính là việc lẩn tránh chị Hương và không để chị Hương có thể liên lạc được với mình và cũng đã có 

hành vi bỏ trốn khỏi nơi đã từng giao dịch hợp đồng với chị Hoa để chiếm đoạt chiếc nhẫn kim cương đó

Như vậy, chị Hoa sẽ bị truy cứu về tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chị Hương có thể đến cơ quan có thẩm quyền để tố cáo hành vi này của chị Hoa và được bồi thường về phần tài sản dân sự của mình

Thứ hai, về mặt pháp luật dân sự

Như theo tình huống của bạn, chị Hoa và chị Hương đã thống nhất và đạt được sự thỏa thuận trong hợp đồng và cụ thể đây là hợp đồng dân sự

Khi hai bên của mối quan hệ hợp đồng này ràng buộc với nhau bằng những điều khoản trong hợp đồng thì cũng đồng thời phát sinh nghĩa vụ dân sự. Cụ thể những vấn đề pháp lý này được quy định tại hai điều sau: 

"Điều 280. Nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).

Điều 281. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các căn cứ sau đây:

1. Hợp đồng dân sự;

2. Hành vi pháp lý đơn phương;

3. Thực hiện công việc không có uỷ quyền;

4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật;

5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật;

6. Những căn cứ khác do pháp luật quy định"

Như vậy, nghĩa vụ dân sự cụ thể của chị Hoa và chị Hương trong trường hợp này là: chị Hoa có nghĩa vụ phải chuyển giao chiếc nhẫn kim cương cho chị Hương; chị

Hương có nghĩa vụ chuyển giao chiếc xe và trả tiền thuê xe chô chị Hoa. Tuy nhiên, trong tình huống này, hành vi của chị Hương đã phù hợp với nghĩa vụ dân sự của chị là

chị trả lại xe và trả tiền cho chị Hoa, đúng thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự. Ngược lại, chị Hoa lại không thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự của mình, chị Hoa đã không trả

lại chiếc nhẫn kim cương cho chị Hương mà đã bán chiếc nhẫn đó.

Khi chị Hoa không thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự của mình, thời điểm này phát sinh trách nhiệm dân sự của chị Hoa do vi phạm nghĩa vụ dân sự. Chi tiết vấn đề này được

quy định tại Điều 302 BLDS năm 2005 với nội dung:

"Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền"

Điều 303. Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật

1. Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật.

2. Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùng loại thì phi thanh toán giá trị của vật.

3. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại cho bên có quyền thì ngoài việc thanh toán giá trị của vật còn phải bồi thường thiệt hại cho bên có quyền.

 Vậy để giải quyết trường hợp này, chị Hương có thể khởi kiện ra tòa án để buộc chị Hoa phải thực hiện trách nhiệm dân sự của mình theo đúng quy định của pháp luật

Kết luận: xét về mặt pháp luật hình sự hay pháp luật dân sự thì chị Hoa vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật bởi những hành vi của mình và chị Hương sẽ nhận được bồi thường do hành vi này của chị Hoa gây ra

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư tư vấn luật hình sự.