Tuy nhiên khi bên nhận lấy được hàng thì báo lại là hàng không đúng và yêu cầu tôi trả lại tiền. Tôi chấp nhận yêu cầu trả lại tiền và yêu cầu bạn kia trả lại hàng cho tôi. Nhưng lúc đó tôi không có tiền và bảo để nhận lại tiền COD và gửi sau nhưng bên kia không chịu và đòi viết đơn tố cáo tôi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tôi chưa nhận tiền COD) và dùng số điện thoại rác giả dạng công an hù dọa tôi.

Vì tôi không muốn liên quan đến pháp luật nên tôi đã mượn tiền và trả trước cho bạn ấy. Nhưng bạn ấy vẫn viết đơn và lên mạng rêu rao. Sau khi nhận được tiền thì bạn ấy bảo không rút được đơn ra khỏi chỗ công an và phải mất 1 thùng bia (có ghi âm cuộc gọi) cho công an mà vẫn không lấy được điện thoại ra. Và bảo điện thoại hư lấy làm gì trong khi điện thoại tôi gửi vẫn hoạt động bình thường.

Xin hỏi quý công ty là:

1. Hành vi của tôi có cho là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không vì tôi chưa cầm được bất kỳ khoản tiền nào từ bên người mua. Và sản phẩm tôi bán giá trị tương đương với sản phảm đã rao.

2. Và nếu như bên kia viết đơn tố cáo tôi và xin rút đơn lại thì hồ sơ của tôi có bị lưu trong lý lịch không ?

3. Và bên phía công an có được giữ lại hàng hóa nữa không ? Nếu bên người mua không trả lại sản phẩm cho tôi thì tôi có được phép tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.B

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn về việc giả chữ ký để vay tiền ngân hàng ?

Luật sư tư vấn hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, gọi:   1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009)

Bộ luật hình sự năm 2015

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 

2. Nội dung tư vấn:

2.1. Yêu cầu thứ nhất: Hành vi của bạn có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Theo đó, để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, một người phải có hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Cụ thể hành vi này được thể hiện dưới dạng như sau:

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Phân tích vào trường hợp của bạn, dựa trên những tình tiết mà bạn cung cấp, bạn có hành vi gửi nhầm hàng những ngay sau đó, bạn đã hoàn trả lại tiền cho bên kia và không quan trọng, hành vi của bạn không có thủ đoạn gian dối cũng như không có mục đích chiếm đoạt tài sản mà chỉ là do nhầm lẫn thì hành vi của bạn không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999 như đã phân tích ở trên.

2.2. Yêu cầu thứ hai: nếu như bên kia viết đơn tố cáo bạn và xin rút đơn lại thì hồ sơ của bạn có bị lưu trong lý lịch không? Theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999 thì một người chỉ bị coi là có án tích sau khi đã có bản án của tòa án kết luận bạn có hành vi phạm tội. Trường hợp của bạn, người kia đã có đơn tố cáo tuy nhiên, để có thể khởi tố, truy tố, xét xử và ra bản án với bạn, cơ quan điều tra phải tiến hành điều tra xác minh theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003:

"Điều 86. Nhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm.
Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.
Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng."

Do đó, khi có tin báo về trường hợp của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh, xử lý thông tin với trường hợp của bạn. Nếu bạn không có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như chúng tôi đã phân tích ở trên thì cơ quan điều tra nếu đã thụ lý đơn tố cáo của người kia thì họ sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Khi bạn chưa có hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể ở đây là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cơ quan điều tra sẽ không ghi vào lý lịch tư pháp của bạn.

2.3. Yêu cầu thứ ba: bên phía công an có được giữ lại hàng hóa nữa không ? Nếu bên người mua không trả lại sản phẩm cho bạn thì bạn có được phép tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản không ?

Sau khi xác minh bạn không có hành vi vi phạm pháp luật như chúng tôi đã phân tích ở trên, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án và tiến hành trả lại tài sản cho bạn vì tài sản này vốn thuộc quyền sở hữu của bạn và không có liên quan đến việc xử lý vụ án.

Nếu bên kia họ vẫn không trả lại tài sản cho bạn thì bạn có thể yêu cầu trả lại tài sản này cho bạn với yêu cầu là bạn phải hoàn trả lại tiền cho bên mua. Nếu việc bạn giao nhầm hàng cho họ dẫn đến những thiệt hại vật chất cho người mua thì bạn có thể phải bồi thường với những thiệt hại đó theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu bên mau không trả lại hàng cho bạn thì bạn có thể khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp quận nơi cư trú, làm việc nơi cư trú của bên mua.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Mọi vướng mắc về pháp luật hình sự, Quý khách hàng có thể trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900 6162 để nhận được sự tư vấn cụ thể và chi tiết từng trường hợp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê