Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi1900.6162

 

Trả lời:

Chào chị, cảm ơn chị đã gửi thắc mắc tới công ty Luật Minh Khuê, dựa trên thông tin mà chị đã cung cấp, tôi xin trả lời thắc mắc của chị như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 

2. Nội dung trả lời:

Anh ấy nhận là số tiền mua ma túy là của anh và chị cùng góp, và anh đã theo chị đi mua ma túy 2 lần. Do vậy anh đã thừa nhận bản thân từng có hành vi cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy.

"Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội" (khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003). Như vậy, chỉ với lời nhận tội của anh thì chưa đủ căn cứ để kết tội.

"Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội" (Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự)

 Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, Tòa án xác minh lời khai đó là sự thật thì anh sẽ phải chịu tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 94 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngoài ra ở đây chị chưa cung cấp đủ thông tin về các tình tiết vụ việc, dựa vào tình tiết lúc chị bị bắt thì anh ấy có ra can, vậy nên tang chứng, vật chứng ở trên người chị có thể là chứng cứ khác ngoài lời nhận tội, điều này cần xác minh sự thật từ phía cơ quan điều tra, viện kiểm soát, tòa án.

Như vậy Chỉ được kết tội anh khi đã xác minh sự thật và các chứng cứ xác định anh có tội. Khi đó anh, chị phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và sẽ bị xử phạt theo quy định tại điều 194 Bộ luật hình sự.

Về xử phạt tội mua bán trái phép chất ma túy:

"Điều 194.  Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy           

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy  năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây cô ca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

m) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ  hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 điều này;

p) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây cô ca có trọng lượng từ hai mươi lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm năm mươi kilôgam;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ  một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm  năm mươi mililít đến dưới  bảy trăm năm mươi mililít;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây cô ca có trọng lượng từ bảy mươi lăm kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên;

e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ  ba trăm gam trở lên;

g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 điều này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Trong trường hợp này nếu hành vi mua bán ma túy của anh, chị không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, khản 4 của điều này thì hành vi phạm tội này là hành vi cấu thành cơ bản của tội phạm, được quy định khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 2 đến 7 năm tù. Cũng như đối với các tội phạm khác, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, Toà án phải căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại Chương VII Bộ luật hình sự (từ Điều 45 đến Điều 54 Bộ luật hình sự 1999). Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999, không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự 1999, thì Toà án có thể áp dụng dưới mức thấp nhất trong khung hình phạt (phạt tù dưới hai năm), nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì có thể cho người phạm tội được hưởng án treo.

Nếu trong quá trình điều tra vụ án, thu thập chứng cứ, cơ quan điều tra phát hiện ra anh, chị có một trong các tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 thì khung hình phạt cho tội danh này là phạt tù từ 7 năm đến 15 năm, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự thì anh, chị sẽ bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm, và nếu hành vi phạm tội này thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự thì người nhà bạn sẽ bị áp dụng khung hình phạt  là bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Ngoài hình phạt chính, anh, chị còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Min Khuê