1. Tư vấn xác định tội danh và yếu tố đồng phạm theo luật hình sự ?

Xin chào Luật sư! Tôi có câu hỏi về luật hình sự, mong Luật sư tư vấn giúp. Tình huống: Ba đối tượng A, B và C là các đối tượng có tiền án về tội trộm cắp tài sản. Biết anh D vừa mới trúng xổ số có nhiều tiền nên A, B và C bàn bạc cùng nhau đột nhập vào nhà anh D để lấy tài sản.

Ngày 22/4/2012, ba đối tượng chuẩn bị kìm cộng lực, chìa khoá vạn năng rồi núp ở sau vườn nhà anh D, tuy nhiên do nhà anh D hôm đó có nhiều người nên cả bọn ra về và thống nhất hôm sau sẽ thực hiện. Ngày hôm sau, do A bị đau bụng nên chỉ có B và C thực hiện hành vi đột nhập vào nhà anh D lấy được 25 triệu đồng. Với tài liệu trên đã xác minh.

Xin hỏi:

1. Định tội danh trong vụ án ?

2. Vụ án có đồng phạm không? Vì sao?

3. Hành vi của A có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội không? Tôi xin cảm ơn !

Người gửi: L.H.S

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào nthoong tin bạn cung cấp chúng tôi xin tư vấn như sau:

1)"Điều 138, Bộ luật hình sự năm 1999,sửa đổi bổ sung năm 2009 Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".

- Hành vi khách quan: hành vi lén lút đột nhập vào nhà để lấy tài sản.

- Khách thể của tội phạm: quan hệ sở hữu (tài sản của D)

- Chủ thể: là cá nhân, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tuy nhiên, để thỏa mãn là chủ thể của tội phạm, A,B,C còn cần thỏa mãn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 16 với tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, từ đủ 14 tuổi với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng (Điều 12 BLHS)

- Lỗi: lỗi cố ý (đã lên kế hoạch, bàn bạc trước)

- Mục đích: chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, hành vi trên có thể cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 BLHS (cần xét đến tuổi của A,B,C).

2) "Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm".

Điều kiện để có đồng phạm:

- Thứ nhất:có 2 người trở lên cùng thực hiện tội phạm.

- Phải thực hiện tội phạm một cách cố ý.

Những người này có đủ điều kiên chủ thể đó là năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Tức là họ phải có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi cũng như đủ tuổi (để chịu trách nhiệm hình sự phải từ đủ 14 tuổi trở lên)

Như vậy, trong trường hợp này, A,B,C đã có sự bàn bạc và chuẩn bị từ trước, cùng nhau chuẩn bị dụng cụ để thực hịên hành vi trộm cắp tài sản. Như vậy, đã thỏa mãn có từ 2 người trở lên cùng thực hiện tội phạm, ta ngầm hiểu rằng họ có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi vậy ở đây phải xét xem độ tuổi của A,B,C để xem có đổng phạm trong trường hợp này không.

Như đã phân tích ở trên, và dữ liệu bài cho hành động của A,B,C cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 38 BLHS.

Mức cao nhất của khung hình phạt là 3 năm tù => tội ít nghiêm trọng.

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự tội ít nghiêm trọng là từ đủ 16 tuổi.

Như vậy, trong trường hợp này phải xét xem A,B,C có độ tuổi bao nhiêu.

Ví dụ: A 18 tuổi, B đủ 16 tuổi, C 15 tuổi => có đồng phạm

A 17 tuổi, B,C 14 tuổi => không có đồng phạm

...

3) "Điều 19. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này."

Một hành vi được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải thỏa mãn những điều kiện nhất định.

- Điều kiện thứ nhất là hành vi chấm dứt việc phạm tội phải là tự nguyện và dứt khoát, nghĩa là phải do chính người thực hiện hành vi tự quyết định chấm dứt việc phạm tội mặc dù không có gì ngăn cản việc người đó tiếp tục phạm tội và sự châm dứt đó phải là việc từ bỏ hẳn ý định thực hiện tội phạm.

- Điều kiện thứ hai là sự chấm dứt việc phạm tội phải xảy ra trong quá trình một người đã có hành vi bắt tay vào việc thực hiện ý định phạm tội nhưng chưa thực hiện được tội phạm đến cùng, nghĩa là hành vi mà người đó thực hiện chưa thỏa mãn được hết các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể mà người đó định phạm.

Điều kiện thứ 2 đã được thỏa mãn. Ta xét đến điều kiện thứ nhất:

Việc A đau bụng không phải việc A mong muốn, nếu không bị đau bụng khả năng rất lớn là A vẫn tiếp tục hành vi đột nhập chiếm đoạt tài sản cùng B và C. Do đó hành vi của A không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội.

Trên đây là ý kiến để cá nhân, tổ chức tham khảo, mọi thắc mắc liên hệ 1900.6162

Trân trọng./.

2. Hướng dẫn cách xác định tội danh ?

Xin chào Luật Minh Khuê, em có câu hỏi xin được giải đáp như sau: Luật sư giúp em định tội danh trong 02 trường hợp sau:

Câu1 . Chị K có thai 9 tháng tròn, nhưng gần tới ngày sinh nở chị phát hiện chồng mình có vợ bé bên ngoài nên rất buồn, vì thế chị không muốn sinh đứa con này. Do gần tới ngày sinh nở nên chị ở nhà không đi làm, nhà chị sống trong khu chung cư tầng 7. Ngày 13/6/2012 khi đang ở nhà chị bị đau bụng và chị vào nhà vệ sinh, trong lúc đi vệ sinh chị bị đau bụng dữ dội và sinh ra em bé trong bồn cầu. Lúc này trong đầu chị thoáng lên ý nghĩ trả thù chồng. Chị đã giật bồn cầu và em bé lọt xuống hầm cầu. Sau đó chị vẫn sách giỏ đi chợ như thường ngày. Lúc này tại tầng A có chị T đang ở nhà và nghe tiếng trẻ khóc, Chị đi tìm và phát hiện ra tiếng khóc phát ra từ nhà vệ sinh. Chị nhanh chóng gọi người tới đập tolet và cứu đứa bé vẫn còn sống ra.

Câu 2 . Anh N là cán bộ an ninh ấp 2, tỉnh D, Tối ngày 19/6/2005 được công an xã giao canh gác trụ sở Uỷ ban nhưng anh đã cùng T và H là 2 dân quân trong ấp lên đường quốc lộ xét xe. Trước khi đi N có cầm theo khẩu súng Col 45 và 2 viên đạn mà y cất giữ từ thời kháng chiến chống Mỹ. Khi chặn xe hơi anh P, anh P không dừng xe, N đã bắn vào xe và làm bà L ngồi trên xe bị chết. Sau khi sự việc xảy ra N đã bỏ trốn. Công an tỉnh D quyết định truy nã N. Ngày 28/9/2005 y giả vờ là công nhân vào xí nghiệp K, lấy trộm xe Wave Honda của công nhân, khi qua cổng 50m thì bị bảo vệ xí nghiệp phát hiên và bắt giữ. Tại cơ quan Công an N đã khai nhận hành vi trên.

Tư vấn về việc định tội danh?

Tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Câu 1:

Điều 94 Bộ luật Hình sự 1999 (Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2009) quy định về tội giết con mới đẻ như sau:

"Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

Chủ thể của tội này là người mẹ của nạn nhân và người mẹ vì ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà buộc phải giết hoặc vứt bỏ con do mình mới đẻ ra. Nếu vì lý do khác mà giết con mình vừa đẻ ra thì không thuộc trường hợp phạm tội này. Ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu là ảnh hưởng của tư tưởng cũ đã lỗi thời, không còn phù hợp với quan niệm về cuộc sống, lối sống hiện tại. Trường hợp đứa trẻ bị người mẹ giết hoặc vứt bỏ dẫn tới bị chết trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là trường hợp sau khi sinh con, người mẹ không có khả năng để nuôi con mình như: bị mất sữa, bị ốm nặng hoặc trong hoàn cảnh khách quan khác.

Như vậy, theo quy định trên thì chị K không phạm tội giết con mới đẻ do chị không hề bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu và cũng không ở trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt.

Điều 93 BLHS quy định về tội giết người như sau:

"1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Các yếu tố cấu thành tội giết người bao gồm:

1. Mặt khách quan:

* Có hành vi làm chết người khác: Được thể hiện qua hành vi dùng mọi thủ đoạn nhằm làm cho người khác chấm dứt cuộc sống.

- Hành vi làm chết người được thực hiện thông qua các hình thức sau:

+ Hành động: Thể hiện qua việc người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà pháp luật không cho phép như: dùng dao đâm,dùng súng bắn, dùng cây đánh … nhằm giết người khác.

+ Không hành động: Thể hiện qua việc người phạm tội đã không thực hiện nghĩa vụ phải làm ( phải hành động) để đảm bảo sự an toàn tính mạng của người khác…nhằm giết người khác. Thông thường tội phạm được thực hiện trong trường hợp (bằng cách) lợi dụng nghề nghiệp.

- Có hoặc không sử dụng vũ khí, hung khí

- Hành vi giết người được thể hiện dưới hình thức dùng vũ lực hoặc không dùng vũ lực, cụ thể là:

+ Dùng vũ lực: Được hiểu là trường hợp người phạm tội đã sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội ) tác động lên thân thể nạn nhân. Việc dùng vũ lực có thể được thể hiện bằng các hình thức sau: Thực hiện trực tiếp như dùng tay, chân để đánh đá, bóp cổ,…Thực hiện gián tiếp thông qua phương tiện vật chất (có công cụ, phương tiện phạm tội) như: Dùng dao để đâm, chém, dùng súng bắn…

+ Không dùng vũ lực: Nghĩa là dùng các thủ đoạn khác mà không sử dụng sức mạnh vật chất để tác động lên cơ thể nạn nhân như: Dùng thuốc độc để đầu độc nạn nhân, gài bẫy điện để nạn nhân vướng vào…

* Về hậu quả: Các hành vi nêu trên thông thường gây hậu quả trực tiếp là làm người khác chết (tức là chấm dứt sự sống của người khác). Tuy nhiên chỉ cần hành vi mà người phạm tội đã thực hiện có mục đích làm chấm dứt sự sống của người khác (hay làm cho người khác chết) thì được coi là cấu thành tội giết người cho dù hậu quả chết người có xảy ra hay không.

2. Khách thể: Khách thể của tội giết người là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người (đang sống).

3. Mặt chủ quan: Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (được thể hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).

4. Chủ thể: Chủ thể này bất kỳ là người nào có năng lực trách nhiệm hình sự

Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, nghĩa là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của tội giết người. Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Từ 16 tuổi trở lên: Chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 93 BLHS thì giết trẻ em là trường hợp người phạm tội đã cố ý tước đoạt tính mạng của trẻ em (người dưới 16 tuổi). Giết trẻ em được coi là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Như vậy, theo những phân tích trên, có thể thấy chị K có các yếu tố cấu thành tội giết người do đó chị K sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo đúng quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 93 BLHS.

Câu 2:

Điều 98 BLHS quy định về tội vô ý làm chết người như sau:

"1. Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm."

Tội vô ý làm chết người có các dấu hiệu cơ bản sau:

- Về khách quan, người phạm tội có nhưng hành vi tương tự hành vi của tội giết người; hậu quả xảy ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng tương tự như đối với tội giết người.

- Về ý thức chủ quan của người phạm tội và đây cũng là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt giữa tội vô ý làm chết người với tội giết người. Đó là lỗi của người phạm tội, người phạm tội vô ý làm chết người thực hiện hành vi của mình dưới hình thức lỗi do vô ý bao gồm cả vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin.

Theo quy định tại Điều 10 Bộ luật hình sự thì vô ý phạm tội là tội phạm trường hợp sau đây:

- Người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

- Người phạm tội không thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậy quả đó

Theo như tình huống đưa ra thì anh N đã bắn vào xe và làm bà L ngồi trên xe bị chết; như vậy có thể thấy anh N chỉ có ý định bắn vào xe của anh P nhằm mục đích buộc anh P phải dừng xe mà không hề có ý định giết bà L. Do đó, căn cứ vào hành vi của anh N và căn cứ vào các dấu hiệu đã phân tích ở trên thì anh N sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người theo quy định tại Khoản 1 Điều 98 BLHS.

Ngoài ra, Khoản 1 Điều 138 BLHS quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc hai triệu động nhưng gây hậu quả nghiêm trọnghoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Như vậy, N sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người và tội trộm cắp tài sản.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

3. Cách định tội danh đối với tội cướp tài sản ?

Xin chào luật sư! cho em hỏi câu này: L,S,C bàn bạc lên khu vực đào vàng của xã H để chiếm đoạt tài sản của người đào vàng. Khi đi theo chúng mang theo 3 khẩu AK và 3 quả mìn. Khi đến hang B thì chúng phát hiện tổ đào vàng của N đang nghỉ ngơi, bọn chúng ập vào lán, dơ súng đe dọa và khống chế cả tổ nộp hết tài sản. N bỏ chạy liền bị ép cầm cành cây đánh bị thương nhẹ, đồng thời L và C chỉa nòng súng AK lên trời bắn chỉ thiên để uy hiếp tạo điều kiện cho S lấy tài sản. Trong những loạt đạn mà L và C bắn lên trời có 1 viên đạn trúng vào vách đá và rơi vào D làm D chết(D thuộc tổ đào vàng). Xác định các vi phạm pháp luật và phân tích cấu thành phạm tội của hành vi vi phạm pháp luật đó?
Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi:1900.6162

Trả Lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

1. Hành vi của L, S, C bàn bạc để chiếm đoạt tài sản của những người đào vàng cấu thành tội cướp tài sản. Theo đó cướp tài sản được hiểu là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của họ hoặc do họ quản lý.

Mặt khách quan của tội cướp tài sản có một trong các dấu hiệu sau: Có hành vi dùng vũ lực là hành vi của người phạm tội dùng sức mạnh có tính vật chất tác động vào thân thể của người chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc bất cứ người nào cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội, làm những người đó không thể kháng cự lại hoặc làm tê liệt ý chí kháng cứ hay khả năng kháng cự của người đó để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản; Có hành vi đe dọa dùng ngy tức khắc vũ lực là hành vi cụ thể của người phạm tội biểu hiện cho người bị tấn công biết rằng người phạm tội có thể sử dụng vũ lực ngay tức khắc nếu người bị tấn công có hành vi cnr trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội nhằm làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị tấn công; Có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự là hành vi mà người phạm tội có thể thực hiện thông qua cử chỉ, lòi nói, thái độ hoặc hành động khác với những thủ đoạn khác nhau với mục đích làm cho người bị tấn công tê liệt ý chí kháng cự để chiếm đoạt tài sản. Đặc điểm của dạng hành vi này người phạm tội không tác động bằng sức mạnh vật chất vào người bị tấn công mà dùng các thủ đoạn tinh vi để tác động vào thể chất, tinh thần của người bị hại.

Mặt chủ quan: người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

"Điều 133, Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

2. Hành vi của L, S, C sử dụng 3 khẩu AK và 3 quả mìn để đi cướp thì hành vi này cấu thành tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyện, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Mặt khách quan: có hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, có hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

Mặt chủ quan: người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

"Điều 230. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Gây hậu qủa nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

3. Hành vi của L và C bắn chỉ thiên để uy hiếp không may trong loạt đạt của 1 trong 2 người này đã trúng vách đá mà rơi vào đầu D làm cho D chết, với hành vi này cấu thành tội vô ý làm chết người theo điều 98 bộ luật hình sự.

Vô ý làm chết người được hiểu là hành vi nguy hiểm được thực hiện quá tự tin hoặc vì cẩu thả đã gây hậu quả làm chết người khác.

Mặt khách quan: có hành vi nguy hiểm cho xã hội là nguyên nhân trực tiếp gây chết người khác mặc dù bản thân họ không mong muốn. Hậu quả chết người là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này

Mặt chủ quan: người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì quá cẩu thả.

Vô ý vì qúa tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến hậy quả chết người nhưng lại chủ quan cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

Vô ý vì cẩu thả: trường hợp này người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó

"Điều 98. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Điều 99. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

1. Người nào vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy ngoài các tội danh trên thì ở đây có dấu hiệu của phạm tội có tổ chức, tính chất nguy hiểm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua 1900.6162 .

Trân trọng./.

4. Tư vấn xác định tội danh khi bị vu khống, đòi bồi thường danh dự ?

Nhờ luật sư tư vấn giúp: Tôi năm nay 25 tuổi. Là một sĩ quan quân đội. Tôi có quen với một chị năm nay 30 tuổi đã có gia đình. Tuy mới quen nhưng hai chị em nói chuyện có vẻ hợp nhau. Một lần chị và bạn chị có mời tôi đi ăn uống về hơi trễ. Tôi chở chị về rồi có dừng ở chỗ vắng tâm sự. Rồi cả hai cũng hơi quá khi đã quan hệ tình dục với nhau. Bất ngờ là chồng chị xuất hiện.
Chồng chị có mang theo sẵn côn nhị khúc và anh ta đánh tôi. Anh ta quay phim chụp hình và hỏi tôi nhiều về bản thân. Hậu quả tôi bị thương ở đầu và mặt phải khâu hơn 10 mũi. Nhưng chính anh ta và một người là học trò của anh ta đưa tôi đi viện. ( anh ta dạy võ). Ở bệnh viện anh ta nói khi nào khoẻ phải gặp anh ta để nói chuyện. Cách một tuần anh ta hẹn gặp tôi và tôi đồng ý. Anh ta nói có hai cách giải quyết việc này: Môt là anh ta đã làm đầy đủ thủ tục hồ sơ để kết án tôi về những tội danh sau: cố ý dàn cảnh ngã xe máy để cướp tài sản, hiếp dâm, quan hệ với phụ nữ đã có gia đình. Anh ta nói có thể tôi sẽ phải ngồi tù khoảng 1 năm rưỡi. Vì người nhà anh ta làm ở bộ công an đã lo đầy đủ thủ tục rồi. Hai là lúc đánh tôi anh ta có hai nhân chứng là học trò anh ta và người chị gái của chị bạn tôi. Anh ta bảo rằng họ sẵm sàng làm chứng rằng tôi phạm những tội như vậy. Vì khi đưa tôi ra viện thì chìa khoá xe máy của chị bạn tôi nằm trong túi quần tôi. Cách giải quyết thứ hai anh ta đưa ra là nếu tôi không muốn bị ảnh hưởng gì đến tương lai sự nghiệp thì phải bồi thường tiền danh dự nhân phẩm cho anh ta là 100 triệu đồng.
Nếu không anh ta sẽ khởi kiện tôi ra toà. Tôi không đồng ý và đã bảo anh ta là tôi chỉ xin lỗi gia đình anh chị. Tôi chấp nhận bồi thường chi phí sửa xe máy do tôi có ngã thật vì tôi hơi say cộng với tiền viện phí mà anh ta với người chị gái của chị bạn tôi đã thanh toán cho tôi. Hai phí đó chỉ hết khoảng 1 triệu đồng nhưng tôi nói sẽ đưa cho anh ta 5 triệu và hai bên giải hoà không liên quan gì đến nhau. Tôi cũng chấp nhận lời đề nghị của anh ta là không có bất kỳ liên lạc nào với vợ anh ta nữa. Anh ta nói nếu không đc 100 thì ít nhất cũng phải 50 triệu. Sau đó bỏ về. Đến tối hôm đó học trò của anh ta có gọi điện thoại cho tôi và hỏi ý định của tôi như thế nào. Tôi khẳng định lại như hồi sáng tôi nói chuyện với anh ta. Giữa tôi và chị vợ anh ta tất cả đều do tự nguyện. Tôi không có ý định dàn xếp cướp tài sản, cũng không phải hiếp dâm như anh ta nói. Tôi với chị quen nhau chưa đầy hai tháng nên mọi chuyện cũng là lần đầu nên chưa có hậu quả gì.
Vậy tôi muốn hỏi luật sư là tôi phạm những tội danh gì? Sẽ bị xử lý ra sao trước pháp luật? Và anh chồng của chị bạn tôi phạm những tội danh gì? Và sẽ bị xử lý ra sao trước pháp luật ?
Cảm ơn và mong nhận sự tư vấn của luật sư!

Trả lời:

Thứ nhất: Bạn quan hệ với người có gia đình và bị chồng người đó bắt gặp và hành hung, sau đó yêu cầu đòi bồi thường danh dự 100 triệu đồng hoặc phải ngồi tù có phạm tội gì không?

Theo quy định tại khoản 1 điều 147 Bộ Luật Hình sự năm 1999 về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:

“Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.”

Hành vi chung sống như vợ chồng: Là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...

Trường hợp của bạn chỉ có hành vi quan hệ tình dục với người đã có gia đình trên cơ sở tự nguyện nhưng không có hành vi chung sống như vợ chồng sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ hai: Chồng của Bạn Bạn phạm tội gì ?

Điều 103. Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Bộ Luật tố tụng Hình sự 2003)

1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.


Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng…

Trường hợp chồng của bạn bạn có đơn khởi kiện bạn, thì hồ sơ sẽ được chuyển đến cho Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra có thẩm quyền sẽ có trách nhiệm kiểm tra, xác minh lại nguồn tin và tình tiết vụ án. Nếu xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự còn nếu không thấy dấu hiệu thì Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Việc xác định sự thật của vụ án thuộc về nghĩa vụ của các cơ quan tố tụng có thẩm quyền, bạn có quyền chứng minh mình vô tội nhưng không buộc phải chứng minh.

"Điều 10. Xác định sự thật của vụ án

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội."

Như vậy anh ta có thể phạm vào tội vu khống theo Điều 122 bộ luật Hình sự

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

Ngoài ra anh ta có thể bị khép vào tội cướng đoạt tài sản theo Điều 135 Bộ luật Hình sự

"Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê