1. Tư vấn xác lập hiện trường tai nạn giao thông ?

Xin chào văn phòng luật sư Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Nếu xe ô tô va quẹt với xe gắn máy gây tai nạn xong mà tài xế lấy chính chiếc xe ô tô gây tai nạn chở bệnh nhân đi bệnh viện xong tài xế chạy xe về hiện trường tai nạn thì liệu tài xế ô tô có bị quy vào bỏ hiện trường tai nạn không?

Tôi xin cảm ơn công ty.

Người gửi: Tich Cao

Tư vấn xác lập hiện trường tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1940

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Đối với một số thắc mắc của bạn, tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 38 Luật Giao thông đường bộ 2008 về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi gây ra tai nạn : “Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất”.

Như vậy có thể thấy pháp luật Việt Nam cho phép người gây tai nạn được rời khỏi hiện trường nhưng phải trong trường hợp “bị thương phải đi cấp cứu hoặc đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc bị đe dọa đến tính mạng”. Việc đe dọa đến tinh mạng như người nhà nạn nhân hoặc người dân có những hành vi, thái độ quá khích có thể xâm phạm đến tính mạng của tài xế. Còn nếu không vì lý do này thì việc rời khỏi hiện trường là trái với quy định.

>> Xem thêm: Tai nạn giao thông gây chết người hai bên gia đình có thể tự hòa giải không liên quan đến pháp luật được không ?

2. Truy cứu trách nhiệm hình sự ra sao khi gây tai nạn giao thông ?

Chào luật sư, tối qua em lưu thông trên đường đã va quẹt với một bà cụ, cụ băng qua đường đến giữa đường dừng lại đột ngột chạy qua đầu xe, em không xử lý kịp nên gây tai nạn, ví của em bị mất bên trong có cavet, cmnd, bằng lái xe. , lúc đấy em ko dùng bia rượu, chạy đúng tốc độ và làn đường, và em bị cận 2 độ 25 nhưng không đeo kiếngcụ bị chấn thương sọ não nhẹ, vẫn đag chờ theo dõi, đã tỉnh táo ăn uống sinh hoạt bình thườngrất mong luật sư tư vấn giúp em, em đã phạm lỗi gì, và bị xử lý thế nào ạ, phương tiện lưu thông sẽ bị xử lý ra sao ạ ? trách nhiệm pháp lý với cụ ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn.
- Trương Châu Thanh

3. Tai nạn giao thông có được coi là tai nạn lao động?

Xin chào luật sư. Tôi có câu hỏi cần được tư vấn như sau: trường hợp người lao động được triệu tập đi tập huấn, đến 16h30 kết thúc lớp tập huấn người lao động giao lưu cùng bạn bè và trở về nhà lúc 23h30, bị tai nạn giao thông lúc 24h00 do đâm vào gốc cây ven đường, bị gẫy xương quai xanh và mốt số vết thương khác. Vậy trường hợp tai nạn giao thông này không được coi là tai nạn lao động có đúng hay không hay không ?
Cảm ơn luật sư.
- Nông Thu Trang

4. Mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông làm chết và bị thương nhiều người ?

Chào luật sư Minh Khuê. Do xe bán tải BKS 28C chiếm đường đâm trực diện với xe khách BKS 26B chạy ngược chiều xuống dốc . Khi tài xế hai xe đỗ lại để giải quyết mâu thuẫn (xe bán tải đang lùi xe bỏ chạy thì 9 người trên xe xuống để giữ tài xế xe bán tải lại, tài xế xe bán tải toàn mùi rượu), thì xuất hiện xe container BKS: 28LD đi từ chân dốc lên đèo.
Cùng lúc, chiếc xe đầu kéo khác BKS: 29C di chuyển từ trên dốc xuống không làm chủ tốc độ va chạm với chiếc container khiến xe này quay nghiêng đâm vào xe khách. Va chạm liên hoàn đẩy xe khách 24 chỗ bên trong còn 6 hành khách văng xuống ta-luy bên đường. Tài xế xe đầu kéo bị thương nhẹ, không tham gia cứu người bị nạn. Vụ tai nạn khiến bà T tử vong do mắc kẹt trong xe khách. 5 hành khách khác trên xe này bị thương được đưa vào viện đa khoa Hoà Bình cấp cứu, riêng nạn nhân H (trú tỉnh Sơn La) do vết thương nặng đã chuyển lên bệnh viện Việt Đức điều trị, 1 nữ bị dập lá nách, 1 nữ gẫy 2 chân, 1 nam gẫy 1 chân và xương sườn. Trong qua trình xảy ra tai nạn thì tài xế xe bán tải bỏ trốn không tham gia cứu chữa những người bị nạn (công an không đo được nồng độ cồn trong máu). Xe chở khách BKS 26B được gia đình thuê để chở người đi đám cưới và đang trên đường từ Hà Nội về Sơn La.
Vậy tôi xin được hỏi luật sư:
1. Xe bán tải sẽ bị xử lý như thế nào?
2. Xe đầu kéo BKS 29c bị xử lý như thế nào?
3. Xe khách 26B có trách nhiệm như thế nào?
4. Xe nào phải bồi thường thiệt hại cho những người bị nạn, bồi thường khoản gì và mức bồi thường là bao nhiêu ?
Xin cám ơn luật sư.

Mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông làm chết và bị thương nhiều người ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi : 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Tại Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định:

" Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;
b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;
c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."
Thứ nhất, theo những dữ liệu bạn cung cấp, vu tai nạn đã làm chết 01 người, làm thương 05 người, đồng thời sau khi gây tai nạn, tài xế lái xe bán tải BKS 28C - 025.47 đã cố tình lùi xe bỏ chạy và có phát hiện mùi rượu trên cơ thể; tài xế lái xe đầu kéo khác BKS: 29C không tham gia cứu chữa người bị nạn, như vậy hai tài xế này đa có dấu hiệu tôi phạm và có thể bị khởi tố hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự.
Thứ hai, về trách nhiệm bồi thường của các bên.
Tại Điều 307, 604, 608, 609, 610, 616 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định như sau:

" Điều 307. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Điều 608. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1. Tài sản bị mất;

2. Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;

3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Điều 616. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra

Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau."

Trong trường hợp của bạn, sự bồi thường sẽ được xác định căn cứ vào yếu tố lỗi và mức độ ảnh hưởng của lỗi gây ra như sau:

- Về người tài xế lái xe bán tải, do hâu quả gây chết người không phải là nguyên nhân xuất phát từ lỗi của mình gây ra, chính vì vậy người lái xe này sẽ không phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm,tuy nhiên người tài xế này sẽ phải bồi thường thiệt hại do tài sản và sức khỏe bị xâm phạm.

- Về người tài xế lái xe đầu kéo, do hậu quả gây chết người có nguyên nhân xuất phát trực tiếp từ lôi của mình gây ra, vì vậy người lái xe này sẽ phải chịu bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tài sản bị xâm hại. Các chi phí liên quan đến tang phí sẽ sẽ liên quan đến trách nhiệm bồi thường của tài xế lái xe đầu kéo này.

- Về người tài xế lái xe khách, nếu xác định có lỗi thì tùy vào mức độ gây lỗi thì sẽ phải bôi thường theo quy đinh tại các Điều 608, 609, 610 Bộ luật dân sự.

Tuy nhiên, nếu xác định thiệt hại gây ra là do lỗi của nhiều tài xế thì việc bồi thường sẽ được liên đới theo quy định tại Điều 616 Bộ luật Dân sự.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn xử lý việc vô tình gây tai nạn giao thông chết người ?

5. Bị xử lý như thế nào khi gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn?

Xin chào luật sư: Bố e năm nay 58t.không có bằng lái xe máy tham gia giao thông và gây tai nạn rồi bố e bỏ trốn.3ngày sau công an điều tra và lập biên bản giữ xe Gia đình e đã liên hệ với bên bị nạn và đã bồi thường cho họ số tiền 15triệu.họ không bị nặng chỉ bị chấn động thần kinh phải nằm nghỉ ngơi Gia đình em vẫn qua lại thăm họ nhưng khi yêu cầu họ viết đơn bãi nại để gia đình e lấy xe nhưng họ đòi 20 triệu nữa mới làm đơn.
Vậy trong trường hợp này em xin hỏi nếu gia đình em để cho công an họ giải quyết thì hình phạt của bố e là như thế nào và bồi thường ra sao?
Thứ 2 là :khi công an giải quyết thì em sẽ phải nộp phạt là bao nhiêu ?
Thứ 3:mức xử lý của bố em sẽ là mức nào ?
Em xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất: Truy cứu TNHS:

Theo thông tin bạn cung cấp, bố bạn điều khiển phương tiện tham gia giao thông nhưng không có bằng lái và gây tai nạn nên bố bạn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 2002 Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 ):

" Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, gây tai nạn rồi bỏ trốn được coi là một trong những tình tiết tăng nặng, theo đó, người vi phạm sẽ bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm tùy thuộc vào mức dộ nghiêm trọng ( hành vi bỏ trốn gây thiệt hại nghiêm trọng hơn cho sức khỏe của nạn nhân khi không được cứu chữa kịp thời...).

Thứ hai: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Mức bồi thường thiệt hại sẽ được tính như sau:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định".

Các chi phí này sẽ do bên bị thiệt hại kê khai và họ sẽ phải có các giấy tờ chứng minh được các khoản họ kê khai là hợp pháp. Nếu như các bên không thoả thuận được mức bồi thường có thể khởi kiện ra Toà án và thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày xảy ra sự việc.

Như vậy việc bồi thường thiệt hại được xác định dựa trên thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại. Nếu gia đình bạn không thỏa thuận được thì tòa án sẽ xác định mức thiệt hại thực tế căn cứ vào các quy định nêu trên. Gia đình bạn cũng có hành động nhằm khắc phục hậu quả nên sẽ được xem là một tình tiết giảm nhẹ cho bố bạn khi định tội.

>> Xem ngay: Bồi thường thiệt hại và bảo hiểm khi xảy ra tai nạn giao thông

6. Tư vấn bồi thường khi gây tai nạn giao thông ?

Kính chào các Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em tôi năm nay 30 tuổi, hiện có 2 con nhỏ 1 cháu năm nay 3 tuổi và 1 cháu năm nay 1 tuổi. Trên đường (đi bằng xe máy) đi làm về có va chạm với 1 xe máy khác, em tôi có bằng lái và xe đầy đủ giấy phép lưu hành cũng như bảo hiểm đầy đủ theo quy định của pháp luật. Vào 20h em tôi đang trên đường đi làm về trên 1 chiếc cầu thì có va chạm chiếc xe máy chạy ngược chiều chiếc xe này do 1 người đàn ông năm nay 36 tuổi điều khiển và trong tình trạng đã uống rượi, và sau khi va chạm thì người đàn ông này đã qua đời còn em tôi bị thương nặng và phải phảu thuật. người đàn ông này hiện có 2 chàu nhỏ, 1 cháu 8 tháng và 1 cháu 10 tuổi

Cho tôi hỏi 2 trường hợp:
1- Nếu không may gia đình kia đưa đơn kiện thì em tôi phải chịu những hình phạt gì và phải đền bù như thế nào, và có ảnh hưởng gì đến công việc của em tôi không ( lỗi hoàn toàn là do khách quan, em tôi không uống rượu bia hoặc chất kích thích).
2- Nếu 2 bên thỏa thuận êm đẹp thì em tôi có bị đưa ra pl xử lý không? nếu phải đưa ra pháp luật xét sử thì em tôi phải chịu những hình phạt như thê nào . và có liên quan gì đến công việc của em tôi không ?

Tôi xin trân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn ngọc tùng

Tư vấn bồi thường khi gây tai nạn giao thông ?

Trả lời câu thứ nhất: Nếu gia đình đó đưa đơn khởi kiện thì em bạn sẽ phải chịu hình phạt như sau:

Thứ nhất, bạn cần hiểu rằng, trong trường hợp này em bạn vừa vi phạm về pháp luật hình sự vừa vi phạm về pháp luật dân sự. Cụ thể, về dân sự thì em bạn đã vi phạm về các quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, gây thiệt hại thì phải bổi thường, việc bồi thường ở đây sẽ là bồi thường bằng tiền. Về hình sự, thì rất có thể em bạn đã vi phạm về “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”(Điều 202 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009) nếu như khi công an điều tra em bạn có những dấu hiệu thể hiện tội này.

Thứ hai, nếu gia đình kia có đơn khởi kiện thì em bạn có thể bị truy tố hình sự.

Căn cứ điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

“Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Việc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe cũng sẽ phải căn cứ vào Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC Hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, để xác định:

“Điều 2. Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt

1. Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”.

Thứ ba, nếu như không đủ những dấu hiệu cấu thành tội để xác định mức bồi thường gia đình bạn phải chịu thì căn cứ vào việc xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.

Căn cứ điều 610 Bộ luật dân sự năm 2005 và mục 2 phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng :

“2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.

2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.

a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.

b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 này, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.

c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại...

d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường”.

Trả lời câu hỏi thứ hai: trong trường hợp bạn và bên gia đình kia có thể tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thì hai bạn có thể tiến hành bồi thường theo thỏa thuận với nhau. Còn trường hợp bên gia đình kia có đơn khởi kiện lên Tòa án, thì dù sau đó có đơn bãi nại thì em của bạn vẫn bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

Bộ phận luật pháp hình sự - Công ty luật Minh KHuê