Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Mỹ Hương

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:    1900 6162

 

Trả lời:

Trước tiên công tin chân thành cảm ơn quý khách hàng đã tin tưởng và gửi thắc mắc đến văn phòng. Trường hợp của bạn công ty xin tư vấn như sau:

1.Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự; Bộ luật tố tụng hình sựBộ luât dân sự;  Luật cư trú.

Với những tình tiết mà bạn đã nêu có thể thấy dấu hiệu tội phạm trong tình huống này. Nó có thể là dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS.

Bạn có thể gửi đơn đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp quận, huyện nơi mà người đó cư trú. Theo quy đinh tại Điều 12 Luật cư trú thì Nơi cư trú của công dân xác định như sau:

“1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống”.

Như vậy bạn có thể gửi đơn đến cơ quan cảnh sát điều tra cấp quận, huyện người đó đang sinh sống. Trường hợp bạn cũng không biết nơi mà người đó đang sinh sống thì bạn có thể gửi đơn đến cơ quan cảnh sát điều tra cấp quận, huyện nơi mà người đó cư trú lần cuối cùng theo như bạn được biết.

Mức án phí hình sự sơ thẩm là 200 nghìn đồng.

Còn đối với việc gia đình người đó biết nhưng bao che thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 314 BLHS: Tội không tố giác tội phạm

“1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này”.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự  - Công ty luật Minh Khuê