Đã hơn 1 tháng, bạn em đã bỏ trốn vào miền nam, em liên lạc nhưng không được và đã tố cáo lên cơ quan công an về hành vi đó của bạn em. Công an đã thu hồi chiếc xe về đồn. Về phía giua đình bạn em, công an đã đến gặp nhưng gia đình không hợp tác, đến giờ em vẫn chưa nhận được xe. Vậy cho em hỏi bạn em có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác không, sẽ bị xử phạt thế nào? Em phải làm gì để nhận lại chiếc xe của mình.
Em xin chân thành cảm ơn.   

Người gửi: NH Hùng

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi:  1900.1940

Lừa lấy xe máy của bạn ?

Lừa lấy xe máy của bạn - Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tài điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, (Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định:

 Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
 
Theo điều luật này thì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có dấu hiệu đầu tiên đó là gian dối, gian dối để làm người khác tin vào những thông tin mà họ đưa ra và giao  tài sản cho chính người phạm tội.
Trong trường hợp của bạn, người bạn của bạn đã mượn chiếc xe máy của bạn sau đó đem ra hiệu cầm đồ, bạn có biết việc đó và không hề phản đối, vậy có thể nhận định rằng hai người đã có sự thỏa thuận nhất định với nhau về việc sử dụng, chiếm hữu chiếc xe. Tuy nhiên, sau khi có được số tiền nhờ cầm cố chiếc xe thì người bạn của bạn lại có hành vi trốn tránh nhằm chiếm đoạt tài sản. vì vậy, có thể thấy hành vi của người này cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tội này quy định tại điều 140 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Theo thông tin bạn cung cấp, có thể thấy người bạn của bạn có thể bị truy cứu theo khoản 1 của điều luật trên và tùy thuộc vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội, tòa án sẽ xác định mức xử phạt phù hợp với quy định của pháp luật.
Trân trọng!
 
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê