Luật sư cho tôi hỏi:
1. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS hãy phân loại tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 BLHS ?
2. Tội trộm cắp tài sản đó là tội có CTTP vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao?
3. Nếu trong quá trình điều tra xác định được khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nói trên A đang bị mắc bệnh tâm thần thì A có phải chịu TNHS không ? Tại sao ?
4. Nếu có đủ căn cứ xác định A chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản là chiếc xe máy trị giá 300 triệu đồng nói trên thì A có phải chịu TNHS không? Tại sao?
5. Giả sử Tòa án căn cứ Điều 47 BLHS xử phạt A 3 năm tù , thì có thể cho A hưởng án treo được không ? Tại sao ?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: M.V

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn xử lý tội trộm cắp tài sản ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến,  gọi số:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục hỏi đáp pháp luật công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 2009 (sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999)

-Nghị quyết 01/2000/NQ-HDTP hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999

2. Nội dung phân tích:

1. Hành vi của A được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138 BLHS. A bị đưa ra xét xử và bị tòa án xử phạt 7 năm tù. Như vậy, mức hình phạt mà A phải chấp hành là 7 năm tù.

Khoản 3 Điều 138 BLHS quy định 

"Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình".

A bị phạt 7 năm tù, giá trị tài sản mà A trộm là 300 triệu đồng và hành vi của A được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138  nên A thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.

2. Trước hết muốn trả lời câu hỏi, tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 BLHS là tội có cấu thành tội phạm hình thức hay vật chất thì phải hiểu được khái niệm của mỗi loại cấu thành.

Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm bắt buộc về mặt khách quan của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm mà các dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra

Điều 138 BLHS quy định như sau về tội trộm cắp tài sản "Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".

Trong trường hợp này: hành vi phạm tội là trộm cắp tài sản (hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác), dấu hiệu của hậu quả là tài sản có "có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng"

=> Tội trộm cắp tài sản là tội có cấu thành tội phạm vật chất.

3. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nói trên, A đang bị mắc bệnh tâm thần thì A sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 13 BLHS thì

"Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh".

Nếu A  thực hiện hành vi phạm tội của mình trong khi đang mắc bệnh tâm thần thì không phải chịu TNHS. Trong trường hợp này A không đủ năng lực TNHS nên không có lỗi. Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ người có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm. Người trong tình trạng không có năng lực TNHS là người đã mất năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội, không đánh giá được hành vi đã thực hiện là đúng hay sai, nên làm hay không nên làm.

4. Điều 17 BLHS quy định:

"Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.

Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện."

A đang trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản (chiếc xe máy) với gái trị là 300 triệu đồng, đây là giai đoạn chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng nên A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện.

5. Điều 47 BLHS quy định 

"Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án."

Về việc quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn được quy định cụ thể tại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP, cụ thể 

 " Quy định "Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật" được áp dụng trong trường hợp điều luật có từ hai khung hình phạt trở lên và người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự không phải theo khung hình phạt nhẹ nhất. Nếu các khung hình phạt của điều luật được sắp xếp theo thứ tự 1, 2, 3... và từ nhẹ nhất đến nặng nhất, thì theo quy định này khi có từ hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 trở lên, Toà án chỉ có thể quy định một hình phạt trong khung hình phạt của khoản 1, nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 2; Toà án chỉ có thể quyết định một hình phạt trong khung hình phạt của khoản 2, nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 3..."

Như vậy việc Tòa án căn cứ Điều 47 để ra hình phạt cho tội của A là 3 năm tù là hoàn toàn phù hợp.

Khoản 1 Điều 60 BLHS quy định như sau về trường hợp được hưởng án treo "Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm"

Như vậy A vẫn có thể được hưởng án treo nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù. 

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cám ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bô phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê