Nhiều người can ngăn nhưng 5 người vẫn xông vào để đánh tôi. Vì có nhiều người ngăn nên tôi đã chạy được, nhưng một số người này vẫn cầm dao và gậy gộc đuổi theo tôi, về đến gần nhà em tôi cách chỗ tôi bị đánh khoảng 400 mét. Khi tôi chạy được vào nhà em tôi thì mới thôi. Sau khi được người nhà đưa tới viện đa khoa để sơ cứu băng bó vết thương và được về nhà nghỉ. Tôi kiểm tra đàn thì thấy đàn bị rạn nứt và không còn sử dụng được nữa. Lúc đó có công an viên đến nhà tôi xác minh và tạm giữ đàn 15 ngày để làm tang vật vụ án,đàn của tôi vừa mua mới được mấy ngày giá 30 triệu đồng. Đêm đó tôi vẫn thấy đau đầu và sốt nên người nhà đưa đi viện. Tôi phải nhập viện, bệnh viện kết luận bị đa chấn thương do bị đánh. Còn đối tượng cũng bị bục đầu nhưng bị nhẹ hơn sáng hôm sau đối tượng đó đã làm việc bình thường. Sau khi được xuất viện tôi đã nộp toàn bộ giấy tờ bệnh án cho công an xã và. Và sau khi hoàn tất hồ sơ công an xã đã trả đàn cho tôi để đi sửa, tôi đi sửa đàn hết 2,8 triệu đồng, tôi cũng đã giao hóa đơn sửa chữa cho công an xã và yêu cầu được đền bù thiệt hại mà đối tượng đã gây ra cho tôi gồm tiền sửa đàn hết 2,8 triệu đồng và tiền thuốc men viện phí, nhưng sau hơn 3 tháng mà vẫn không được giải quyết. Tôi đã yêu cầu chuyển hồ sơ lên cấp trên và từ khi chuyển hồ sơ lên đồn công an đến nay đã gần 2 tháng. Công an đã triệu tập cả 2 chúng tôi lên giải thích và tôi đã đồng ý cho đối tượng trên đền bù với số tiền là 4 triệu đồng (vì tinh cảm làng xóm). Đối tượng đánh tôi đã nhận lỗi và tới nhà tôi xin lỗi. Hai bên đã nhất trí giải hòa sau khi đã nhận tiền đền bù. Nhưng bên công an lại nói phạt hành chính tôi về tôi gây rối trật tự, nhưng tôi không đồng ý vì tôi không hề cãi nhau gây rỗi hay đánh nhau mà đây là tôi bị đánh và tôi chỉ tự vệ, nhưng công an giải thích với tôi là khi đối tượng đánh phải không còn cách nào khác thì mới đươc chống trả. Không được chống lại mà phải chạy rồi báo công an. Nhưng đàn 20kg đeo trên người, xe máy chèn ngang chân thì tôi chạy làm sao được. Như vậy thì tôi còn cách nào nữa không. Chẳng nhẽ cứ nằm im cho họ đánh rồi báo công an. Công an còn bảo tôi không chịu nộp phạt thì sẽ đưa đi dám định sức khoẻ mà thời gian sảy ra sự việc đến nay đã 6 tháng rồi.

Vậy tôi xin luật sư trả lời giúp tôi theo sự việc kể trên thì công an xử lý như vậy có thỏa đáng không? Tôi có phải nộp phạt không, 5 đối tương trên sẽ bị xử lý như thế nào? Nếu công an đồn không xử lý thỏa đáng thì tôi có thể kiện các đối tượng trên tội gì và kiện ở cấp nào?

Xin chân thành cảm ơn luật sư.

Người gửi: Q.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sựcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn xử lý trường hợp gây gổ, đánh người ? 

Luật sư tư vấn luậthình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Bộ luật hình sự 1999

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Nội dung trả lời:

Câu hỏi thứ nhất, công an xử lí như vậy có thỏa đáng không? 

Căn cứ vào Khoản 12 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: "Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích nói trên." Áp dụng trong trường hợp này, việc bạn dùng gạch làm bị thương người khác là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình (bảo vệ an toàn tính mạng của bản thân) khi có người đang có hành vi xâm phạm quyền lợi đó. Do vậy, hành vi của bạn trong trường hợp nói trên là hành vi phòng vệ chính đáng. Dẫn đến, bạn không bị xử phạt hành chính căn cứ theo Khoản 2 Điều 11. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính của Luật xử lí vi phạm hành chính 2012: "Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng". Nên việc công an yêu cầu bạn nộp phạt là không hợp lí.

Câu hỏi thứ hai, tôi có phải nộp phạt không?

Theo như phần trả lời trên, do bạn thuộc trường hợp không xử phạt hành chính quy định tại Khoản 2 Điều 11 Luật xử lí vi phạm hành chính 2012, nên bạn không phải nộp phạt.

Câu hỏi thứ ba, 5 đối tượng trên sẽ bị xử lí như thế nào? 

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 quy định:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác 
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Như vậy, theo quy định trên, nếu chứng minh được các đối tượng trên phạm tội có tính chất côn đồ hoặc phạm tội có tổ chức, hoặc thuê gây thương tích thì họ sẽ bị xử lí hình sự, với mức án phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Nếu không, các đối tượng trên sẽ bị xử lý vi phạm hành chính và bồi thường thiệt hại cho bạn.

Câu hỏi thứ tư, nếu công an đồn không xử lý thỏa đáng thì tôi có thể kiện các đối tượng trên tội gì và kiện ở cấp nào? 

Hiện tại, theo quy định tại Điều 13 của Bộ luật tố tụng hình sự thì chỉ có các cơ quan nhà nước bao gồm: "Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án" mới có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Đối với trường hợp của bạn, bạn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (các có quan nói trên) khởi tố năm đối tượng trên với tội danh cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác. Lúc này vụ việc sẽ được xem xét và giải quyết tại tòa án cấp huyện nơi hành vi phạm tội xảy ra. Cụ thể:

Căn cứ vào khoản 1 điều 51 Bộ Luật Tố tụng Hình sự quy định: Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra.

Và khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại:

“1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại Khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của BLHS chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.” (Khoản 1 Điều 105 BLTTHS)

Thẩm quyền tòa án được quy định cụ thể tại Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

Điều 170. Thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp

1. Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự.

2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.

Điều 171. Thẩm quyền theo lãnh thổ

1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự.