Mọi người có tham gia với cô là vợ chú lên báo công an,nhưng cô ấy không chịu vi vẫn còn thương chồng và nghĩ sẽ tội hai đứa con. Vậy trong trường hợp này cho em hỏi nếu bố mẹ hai bên khi bi chú chửi bới có đc báo công an về tội làm nhục người khác không ạ? Và khi bắt gặp chú đánh vợ người ngoài có được báo công an về tội bạo hành trong gia đình không? Và nếu bi thi hai tội này xử phạt như thế nào ạ?

Rất mong nhận được sự tư vấn từ luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sựgọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp luật:

Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

Nghị định 167/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

2. Nội dung phân tích:

Thứ nhất, vấn đề của bạn hỏi:  trong trường hợp chú bạn thường xuyên chửi bới hai bên họ hàng, bố mẹ hai bên gia đình thì khi bi chú chửi bới bố mẹ hai bên có được báo công an về tội làm nhục người khác không ?

Trước hết, về phía bố mẹ đẻ của chú bạn được xác định là thành viên trong gia đình theo quy định của Luật hôn nhân gia đình (do có quan hệ huyết thống) nên nếu bị chú bạn chửi bới, lăng mạ, cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm thì theo quy định tại Điều 5 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007  bố mẹ đẻ của chú bạn được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của họ, theo đó thì chú của bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó, tại Điều 51. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình Nghị định 167 chú bạn sẽ bị xử phạt dưới các hình thức:

“1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này”.

 Bên cạnh đó, bố mẹ đẻ của chú bạn cũng hoàn toàn có quyền khởi kiện chú bạn về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 khi đáp ứng đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều này, bạn có thể xem xét các dấu hiệu này ở phần phân tích phía dưới.

Về phía bố mẹ vợ của chú bạn thì được quyền báo công an để yêu cầu xử lý hành chính đối với chú bạn về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, và theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng Nghị định 167/2013 thì hành vi của chú bạn sẽ bị phạt như sau:

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác”

Hoặc khởi kiện chú bạn tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự khi việc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chú bạn có các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự về Tội làm nhục người khác thì:

"1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Theo đó, các dấu hiệu cấu thành tội làm nhục người khác theo quy định tại Bộ luật hình sự cụ thể như sau:

Các yếu tố cấu thành tội làm nhục người khác:

1.Mặt khách quan

Mặt khách quan là một trong bốn yếu tố cấu thành tội làm nhục người khác. Mặt khách quan của tội này được thể hiện qua hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác dưới hình thức sau:

+ Thể hiện bằng lời nói: Như sỉ nhục, thóa mạ, chửi bới một cách thô bỉ, tục tĩu…nhằm vào nhân cách, danh dự, với tính chất là hạ thấp nhân cách, danh dự của người bị hại, đồng thời làm cho người bị hại cảm thấy xấu hổ, nhục nhã trước những người khác.

+ Thể hiện bằng việc làm: Như có những hành vi lột trần truồng nạn nhân, nhổ nước bọt vào mặt, ném phân, cà chua, trứng thối vào người, xe cộ...(có hoặc không kèm theo lời nói thô tục) với chính bản thân mình hoặc người bị hại trước đám đông để bêu riếu.

Đặc trưng của tội này là thường diễn ra công khai, trực tiếp và trước nhiều người, có thể thực hiện công khai trước mắt người đó hoặc vắng mặt nạn nhân nhưng người phạm tội có ý thức để cho nạn nhân biết việc lăng nhục đó vì động cơ cá nhân. Sự xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác phải là các hành xúc phạm nghiêm trọng đến danhdự, nhân phẩm của người khác, nghĩa là hành vi trên phải gây ra ảnh hưởng xấu ở mức độ nhất định đến nhân phẩm, danh dự của người bị hại (như lột trần truồng người bị hại ở chỗ đông người, cạo đầu bôi vôi phụ nữ…) thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Việc đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành vi phải căn cứ vào thái độ, nhận thức của người phạm tội; cường độ và thời gian kéo dài của hành vi; vị trí và môi trường xung quanh; vị thể, vai trò của người bị hại trong gia đình, tổ chức cũng như trong xã hội; dư luận xã hội về hành vi lăng nhục đó. Tội phạm được hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội có lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm người khác. Tội làm nhục người khác là tội phạm mà pháp luật hình sự quy định có cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội có lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội làm nhục người khác

+ Người phạm tội quy định ở khoản 1 Điều này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại có yêu cầu khởi tố hình sự. Nếu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm hình sự, người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố thì vụ án bị đình chỉ.

+ Nếu hành làm nhục người khác dẫn đến nạn nhận tự sát thì đó được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nếu nạn nhân có quan hệ lệ thuộc vào người phạm tội mà do hành vi làm nhục dẫn đến nạn nhân tự sát thì người phạm tội không bị truy cứu về tội làm nhục người khác mà tội bức tử (Điều 100 BLHS).

2.Khách thể

Công dân Việt Nam có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được pháp luật bảo về về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự. Tôn trọng và bảo vệ danh dự, nhân phẩm của mỗi công dân là trách nhiệm của mỗi người.

Làm nhục người khác là hành vi của một người dùng lời nói hay hành động làm ảnh hưởng nghiêm trọng nhân phẩm, danh dẹ của người khác. Hành vi phạm tội trên xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác.

3.Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý, người phạm tội biết rõ hành vi của mình là hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội. Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, như để trà thì, có thể trả thù chính người bị hại hoặc cũng có thể trả thù người thân của người bị hại, để thoài mãn thú vui xác thịt…Động cơ, mục đích không phải dấu hiệu bắt buộc của tội làm nhục người khác.

4.Chủ thể

Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi đó. Đối với tội làm nhục người khác, người có năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là người có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự của người khác và có khả năng điều khiển hành vi đó.

Quy định tại Điều 121 BLHS, tội làm nhục người khác có khung hình phạt là “ phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tù “ hai năm”

 Trường hợp việc làm nhục, chửi bới, xúc phạm danh dự của chú bạn không đáp ứng các yếu tố, dấu hiệu cấu thành tội phạm nêu trên thì chú bạn chỉ bị xử phạt hành chính mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định pháp luật hình sự.

Thứ hai, đối với vấn đề bạn hỏi: khi bắt gặp chú đánh vợ người ngoài có được báo công an về tội bạo hành trong gia đình không?

Theo quy định tại Điều 18. Phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình (Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007):

“1. Người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 23 và khoản 4 Điều 29 của Luật này.

2. Cơ quan công an, Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý; giữ bí mật về nhân thân và trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình”.

Như vậy, trong trường hợp này những người phạt hiện hành vi bạo lực gia đình của chú bạn có quyền và nghĩa vụ kịp thời báo tin cho cơ quan công an hoặc Ủy ban nhân dân xã để cơ quan có thẩm quyền kịp thời can thiệp, giải quyết. Theo đó những người phát hiện hành vi bạo lực còn có thể:

- Nộp đơn tới cơ quan công an hoặc Ủy ban nhân dân xã trình bày về việc người vợ bị đánh đập, lăng nhục để cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

- Nếu hành vi bạo lực ở mức độ nghiêm trọng, tàn ác, gây hậu quả nghiêm trọng tới sức khỏe và tinh thần của người vợ thì bạn có thể nộp đơn tố cáo đến công an về tội cố ý gây thương tích hoặc tội hành hạ người khác theo Bộ luật hình sự.

Trong trường hợp này, tùy mức độ hành vi đánh đập, bạo hành vợ của chú bạn có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt theo quy tại các Điều 49; 50; 51 Nghị định 167/2013/NĐ-CP. Trường hợp hành vi bạo hành của chú bạn có dấu hiệu hình sự thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác hoặc tội hành hạ người khác.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư hình sự.