Nghiêm trọng hơn, những blog này còn phát tán rất nhiều hình ảnh, thông tin cá nhân và thông tin liên lạc (điện thoại, facebook, địa chỉ) của rất nhiều nạn nhân khác nữa, trong đó có tôi. Qua quá trình khai thác thông tin, tôi phát hiện ra 1 điều là hoặc kẻ lợi dụng và dụ dỗ tôi gửi ảnh nóng chính là chủ nhân của blog đó, hoặc kẻ đó là người đã cung cấp cho chủ nhân blog những hình ảnh của tôi, và blog cùng đồng phạm với kẻ đó để phát tán hình nhạy cảm của tôi lên mạng. Tôi có khai thác được thông tin (tên, tuổi, nơi công tác) của kẻ đó. Vậy tôi có thể làm gì? họ có phạm vài tội gì? Và những người đó phải chịu xử lý như thế nào trước pháp luật?

Chân thành cảm ơn và mong các luật sư giúp đỡ.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên muc Tư vấn luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn xử lý hành vi tung ảnh nóng, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc về cho chúng tôi, với vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng

Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ Luật Tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi của Quốc hội

Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11

2. Nội dung tư vấn:

Đầu tiên cần khẳng định hành vi tung ảnh nóng, ảnh nhạy cảm của người khác lên mạng là vi phạm pháp luật. Bên cạnh việc cấm tung ảnh nóng, Nhà nước cũng có những quy định xử lý nghiêm những người tung ảnh nóng.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bạn bị một người dụ dỗ tung ảnh nhạy cảm, ảnh nóng cùng với các lời lẽ thô tục lên mạng internet cụ thể là blog. Hành vi này tùy thuộc và mức độ vi phạm cũng như hậu quả xảy ra có thể bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm dân sự nặng hơn có thể là bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, xử phạt hành chính:

Theo quy định tại Điều 5.1.b Nghị định 72/2013/NĐ-CP về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng thì Nhà nước nghiêm cấm việc lợi dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng nhằm vào mục đích tuyên truyền, kích động dâm ô, đồi trụy, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

Người này sẽ phải chịu xử phạt hành chính theo quy định tại Điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP:

Điều 66 quy định về Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin như sau:

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

..

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác

Thứ hai, chịu trách nhiệm dân sự

Theo điều 31, 37, BLDS 2005 quy định như sau:

Điều 31. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh  

"1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp  người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh."

Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín  

"Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ."

Như bạn cung cấp ở trên, thì người này đã dụ dỗ bạn gửi ảnh nóng, ảnh nhạy cảm sau đó tung trên mạng xã hội hình đó cùng với những lời lẽ thô tục. Đây là hành vi sử dụng hình ảnh của người khác mà không được sự đồng ý, cho phép của bạn, nên người này đã vi phạm quyền cá nhân đối với hình ảnh của bạn theo quy định tại Điều 31 BLDS. Trong mọi trường hợp việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý. Nhà nước nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh. Người nào xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại theo quy định Bộ luật Dân sự.

Do đó bạn có thể nộp đơn khởi kiện lên tòa án có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo trình tự thủ tục quy định tại Điều 164, 165,166 BLTTDS như sau:

Điều 164. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện
1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.
2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
b) Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;
c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;
d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;
đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;
e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;
g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;
i) Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;
k) Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án;
l) Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.
Điều 165. Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện
Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 166. Gửi đơn khởi kiện đến Toà án
1. Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:
a) Nộp trực tiếp tại Toà án;
b) Gửi đến Toà án qua bưu điện.
2. Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

Bên cạnh đó, bạn cũng có thể yêu câu người này bồi thường thiệt hại về tinh thần cho bạn. Cụ thể:

Theo hướng dẫn tại Mục 2.1 Phần I Nghị quyết 03/2006/HĐTP-NQ thì mức yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần bao gồm các chi phí để khắc phục, thu hồi các ấn phẩm gây hại. Bên cạnh các chi phí đó, người bị hại có quyền yêu cầu bù đắp tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại, mức yêu cầu này do các bên thỏa thuận nhưng không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Thứ ba, về trách nhiệm hình sự

Nếu hành vi của người này xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của bạn thì người đó bị truy cứu TNHS theo Điều 121 BLHS:

Điều 121. quy định Tội làm nhục người khác như sau:

"1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Ngoài ra, việc người này tung những hình ảnh nhạy cảm, ảnh nóng trên mạng xã hội cho tất cả mọi người xem. Hành vi tung ảnh nóng của bạn nói trên là "phát tán văn hóa phẩm đồi trụy", có thể bị khởi tố hình sự về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy theo Điều 253 BLHS.

Điều 253. Tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ 

"1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi truỵ, cũng như có hành vi khác truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

b) Phổ biến cho nhiều người;

c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

c) Đối với người chưa thành niên;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng."

Theo đó, người truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Tùy theo mức độ nghiêm trọng do hành vi này gây ra mà người làm ra, phát tán các hình ảnh nhạy cảm này có thể bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

Tuy nhiên, trong trường hợp này để bảo vệ quyền lợi và danh dự, nhân phẩm của mình,bạn của bạn cần làm đơn tố cáo hành vi của người này đến cơ quan công an cấp huyện nơi người đó cư trú. Chính bạn phải là ngưởi làm đơn khởi tố, vì đây là trường hợp đặc biệt, chính người bị hại phải có đơn đề nghị khởi tố kẻ đã tung ảnh nóng lên mạng để xử lý theo pháp luật vì đây là trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo Điều 105 BLTTHS. Việc người này phạm tội gì, phạt tù bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm thì phải do cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết tùy theo mức độ vi phạm và có đủ dấu hiệu tội phạm thì mới đưa ra hình thức xử lý và hình phạt phù hợp với hành vi vi phạm đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật MInh KHuê