Gia đình em có liên hệ với công ty này và hai bên thỏa thuận, viết giấy cam kết là đi du học Nhật Bản chi phí hết 200 triệu đồng nhưng khi làm thủ tục cho em thì công ty không làm được hồ sơ cho em. Gia đình em đã chuyển cho công ty này 120 triệu, bây giờ công ty không làm thủ tục cho em đi du học Nhật Bản được nhưng không trả lại số tiền này cho gia đình em. Công ty không hợp tác với gia đình em để trả lại khoản tiền này. Như vậy, hành vi của họ có cấu thành tội lừa đảo chiểm đoạt tài sản không ạ?

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.

Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi:lý tuấn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê,

.Tuyển người đi du học Nhật Bản để chiếm đoạt tiền xử lý như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, Đối với vấn đề của bạn, trước tiên bạn cần phải tìm hiểu xem công ty mà gia đình bạn đã liên hệ có được phép hoạt động dịch vụ tư vấn du học hay không.

Theo quyết định số 05/2013/QĐ–TTg  qui định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập có qui định:

“Điều 10. Thẩm quyền và điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dịch vụ tư vấn du học

1. Sở Giáo dục và Đào tạo cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dịch vụ tư vấn du học cho tổ chức đăng ký hoạt động dịch vụ tư vấn du học.

2. Tổ chức dịch vụ tư vấn du học được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dịch vụ tư vấn du học khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Được thành lập theo quy định pháp luật;

b) Có trụ sở, cơ sở vật chất, thiết bị đáp ứng yêu cầu hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn du học;

c) Có đủ nguồn lực tài chính để bảo đảm giải quyết các trường hợp rủi ro; có tiền ký quỹ tối thiểu 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) tại ngân hàng thương mại;

d) Người đứng đầu tổ chức dịch vụ tư vấn du học và nhân viên trực tiếp tư vấn du học phải có trình độ đại học trở lên, thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ tư vấn du học do Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp.

3. Tổ chức dịch vụ tư vấn du học chỉ được phép hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn du học từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dịch vụ tư vấn du học.

4. Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo danh sách các tổ chức dịch vụ tư vấn du học đã được chứng nhận đăng ký hoạt động để Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo”.

Vì vậy, công ty trên chỉ có thầm quyền tuyển sinh du học khi có giấy phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này do Sở giáo dục vào đào tạo cấp. Bạn có thể xác minh thông tin này thông qua trang web của Bộ giáo dục và đào tạo.

- Nếu công ty trên có thẩm quyền kinh doanh dịch vụ tư vấn du học theo đúng qui định của pháp luật. Và công ty có kí hợp đồng cụ thể đối với gia đình bạn, thì việc xử lí sẽ phụ thuộc vào nội dung của hợp đồng.

- Nếu công ty trên không có thẩm quyền kinh doanh dịch vụ tư vấn du học theo qui định của pháp luật thì việc công ty có cam kết với gia đình bạn về việc làm thủ tục cho bạn đi du học là trái với qui định của pháp luật.

Công ty này đã có hoạt động thông báo về việc tuyển sinh du học và đã có cam kết với gia đình bạn về việc làm thủ tục cho bạn đi du học, đồng thời cũng nhận của gia đình bạn 120 triệu đồng. Tuy nhiên, công ty này đã không thực hiện được như cam kết và không chịu trả lại tiền cho gia đình bạn. Như vậy có thể thấy hành vi của công ty này đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản qui định tại điều 139 Bộ luật hình sự:

“Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê

---------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN: