Em họ tôi có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? Nếu có thì tôi có thể làm gì để lấy lại được tiền?

Mong luật sư tư vấn giúp ạ.Tôi xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

Vay tiền bỏ trốn có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin phép được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015)

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015)

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 (văn bản mới: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

2. Nội dung phân tích:

Thứ nhất, về hiệu lực của hợp đồng vay. Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 có quy định:

"Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Hợp đồng vay không có yêu cầu bắt buộc về mặt hình thức, cho nên hợp đồng vay này có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, cụ thể là :

- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Dựa vào những thông tin bạn cung cấp thì hợp đồng vay này có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, trách nhiệm của em bạn:

- Về trách nhiệm dân sự

Bộ luật dân sự 2005 có quy định về thực hiện hợp đồng vay như sau:

"Điều 477. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.

Điều 478. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.

2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác."

Như vậy, nếu là vay có kỳ hạn thì khi chưa đến hạn, bạn không thể đòi số tiền mình đã cho vay được.

Nếu là vay không kỳ hạn có lãi hay không có lãi thì khi bạn thông báo về việc trả tiền nhưng bên vay lại không đồng ý trả, tức là đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay. 

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn và 2 người bạn kia có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi em bạn cư trú hoặc nơi hợp đồng được thực hiện để giải quyết ( theo điều 35, 36 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011).

- Về trách nhiệm hình sự

Với việc vay tiền rồi bỏ trốn, em bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Nếu ngay từ đầu em bạn đã dùng thủ đoạn gian dối để vay tiền của bạn rồi bỏ trốn thì có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

 "Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".

Ở đây số tiền vay lên đến hơn 100 triệu thì đây sẽ là tình tiết tăng nặng, cụ thể bị phạt tù từ 2 đến 7 năm.

Nếu ban đầu em bạn không dùng thủ đoạn gian dối, mà vay tiền một cách hợp pháp nhưng trong quá trình kinh doanh thua lỗ, nên đã nảy sinh ý định bỏ trốn thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

"Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản". 

Số tiền vay là hơn 100 triệu đồng thì đây là tình tiết tăng nặng, cụ thể bị phạt tù từ 2 đến 7 năm.

Ở đây, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, bạn có thể gửi đơn tố cáo ( mẫu tại đây)  đến cơ quan công an nơi bạn cư trú theo điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

 "Tố giác và tin báo về tội phạm. Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Sau khi xác định cơ quan có thẩm quyền, cơ quan công an sẽ làm thủ tục chuyển quyền điều tra vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê