Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

>>  Tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự 2005 

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 

2. Nội dung phân tích

Theo như thông tin bạn trình bày thì chị bạn có vay tiền của 2 người để làm ăn với số tiền 70 triệu đồng. Do làm ăn thua lỗ nên không có tiền để trả. 

Ở đây có thể phát sinh 2 loại trách nhiệm:

Thứ nhất, trách nhiệm hình sự:

Khoản 1, Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định như sau

"1Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Nếu chị bạn vay tiền rồi làm ăn thua lỗ dẫn tới mất khả năng trả nợ và có căn cứ chứng minh được việc chị bạn mất khả năng trả nợ là do chị bạn đã sử dụng số tiền vay vào mục đích bất hợp pháp, thì lúc này chị bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 Bộ luật hình sự.

Thứ hai, trách nhiệm dân sự

Nếu chị bạn vay tài sản hợp pháp, sử dụng khoản tiền vay đúng mục đích nhưng vẫn thua lỗ và không có khả năng trả nợ, thì lúc này, chị bạn đã vi phạm nghĩa vụ tài sản của bên vay theo điều 474 Bộ luật dân sự 2005. Cụ thể điều 474 quy định như sau:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Như vậy, nếu chị bạn không có khả năng thanh toán khi đến hạn thì chị bạn phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng, lãi trên nợ gốc ( nếu chị bạn vay tiền có lãi). Trong trường hợp này, nếu chị bạn không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, bên cho vay không đồng ý cho chị bạn chậm trả thì  chị bạn có thể bị khởi kiện ra Tòa án vì đã vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Hình sự - Công ty luật Minh Khuê