Trong thời gian chị trốn thì chồng chị lấy cớ đòi con, liên tục gây áp lực, hù doạ gia đình chị là ra đường cẩn thận, rồi còn nhiều lần xuống nhà hăm doạ. Gia đình chị bị áp lực cũng đã khuyên chị đưa cháu về. Nhưng chồng chị vẫn quá đáng. Chuyện là đêm qua ngày 29/92016, bà ngoại có bế cháu về nhà ngủ chung. Chồng chị không biết nguyên nhân do đâu kéo 2 chiếc xe hơi xuống nhà anh đòi cháu. Do khuya gia đình chưa kịp mở cửa thì anh ta liền đạp sập cánh cửa và buông lời lăng mạ mẹ chị, hăm doạ bắn chết anh trai chị. Gia đình do hoảng sợ đã báo công an phường. Tưởng chuyện đã qua. Nhưng đến trưa ngày 30/9/2016, chồng chị cùng một tên thanh niên lại tiếp tục xuống và quậy phá gia đình. Anh thách gia đình báo công an, hăm doạ giết cả nhà, buông lời nhục mạ không thương tiếc và còn vô cớ ra tay đánh bạn gái của anh chị, tuy nhiên thương tích không nặng, không đủ để truy tố hình sự. Tôi muốn hỏi là:

1. Chồng chị làm như vậy có bị truy tố hình sự hay không? Hay chỉ đơn giản là tội phá hoại tài sản.

2. Đối với hành vi hăm doạ giết người có bị truy tố không? Trong thời gian này anh vẫn còn chơi đá, vậy nếu một người sản đá làm ảnh hưởng đến an nguy cuộc sống của người khác như vậy thì pháp luật có cách nào giải quyết hay không?

Tôi chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Việc sử dụng ma tuý đá gây hại đến người khác bị xử lý như thế nào?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Căn cứ pháp lý:

Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật hình sự năm 2009 

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 

II. Nội dung phân tích: 

1. Chồng chị làm như vậy có bị truy tố hình sự hay không? Hay chỉ đơn giản là tội phá hoại tài sản.

Chồng chị bạn có hành vi đạp sập cánh cửa và buông lời lăng mạ mẹ chị nên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 121 và Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

"Điều 121.  Tội làm nhục người khác 

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định trên, tùy mức độ của hành vi lăng mạ người khác mà chồng chị ấy có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm

"Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Để che giấu tội phạm khác;

đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

e) Tái phạm nguy hiểm;

g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b)  Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm"

Theo quy định trên tùy vào mức độ tài sản thiệt hại và hậu quả của hành vi đạp sập cánh cửa mà chồng chị ấy có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Đối với hành vi hăm doạ giết người có bị truy tố không? Trong thời gian này anh vẫn còn chơi đá, vậy nếu một người sản đá làm ảnh hưởng đến an nguy cuộc sống của người khác như vậy thì pháp luật có cách nào giải quyết hay không?

Điều 103 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội đe dọa giết người như sau:

"Điều 103.  Tội đe dọa giết người 

1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Đối với trẻ em;

d) Để che giấu hoặc trốn tránh  việc bị xử lý về một tội phạm khác."

Căn cứ quy định tại Điều 103 Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì đe dọa giết người bị coi là tội phạm là hành vi đe dọa giết người mà hành vi đó có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

Người bị coi là phạm tội là người có hành vi thể hiện sẽ tước đoạt tính mạng người khác. Hành vi này có thể là lời đe dọa với những hình thức khác nhau (qua điện thoại, thư từ…) hoặc có thể là những cử chỉ, việc làm cụ thể gián tiếp thể hiện sự đe dọa (như đi tìm công cụ, phương tiện…).

Hành vi đe dọa phải gây ra cho người bị đe dọa tâm lí lo sợ một cách có căn cứ là hành vi giết người sẽ xảy ra. Hành vi đe dọa giết người chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó đã làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Như vậy, trường hợp một người nhiều lần nhắn tin, đe dọa người khác để đòi tiền chỉ có thể bị coi là phạm tội đe dọa giết người nếu nội dung của tin nhắn có việc dọa giết, đồng thời nội dung và phương thức nhắn tin phải làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

Hành vi đe dọa giết người sẽ không cấu thành tội này khi hành vi đó cùng với những mục đích nhất định cấu thành tội khác. Ví dụ: Đe dọa giết người nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản cấu thành tội cướp tài sản.

Để đánh giá người bị đe dọa có phải ở trong tình trạng tâm lí như vậy hay không cần phải dựa vào những tình tiết sau: Nội dung và hình thức đe dọa; thời gian, địa điểm cũng như hoàn cảnh cụ thể khi hành vi đe dọa xảy ra; tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa; thái độ và những xử sự cụ thể của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa…

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra sự lo sợ cho người khác, có thể dẫn đến hậu quả như lời đe dọa nhưng vẫn thực hiện hành vi đó.

Tội phạm này xâm phạm đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng.

Tội đe dọa giết người được coi là tội phạm ít nghiệm trọng, do đó khung hình phạt cơ bản của tội này có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm; phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm. Đối với trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết tăng nặng như: Đe dọa giết nhiều người; đe dọa giết người thi hành công vụ hoặc vì lí do công vụ của họ; đe dọa giết trẻ em; đe dọa giết người để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lí về một tội khác thì bị coi là tội phạm nghiêm trọng, bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Người phạm tội có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. Tuy nhiên, người chưa thành niên phạm tội này có thể được miễn trách nhiệm hình sự đối với tội này, nếu gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

Như vậy, chị bạn có thể gửi đơn tố cáo tới cơ quan công an gần nhất, đề nghị các cơ quan có biện pháp bảo vệ gia đình và bản thân. Trong trường hợp công an thu thập đủ chứng cứ có thể kết tội chồng chị bạn với tội đe dọa giết người và mức phạt từ 3 tháng tới 7 năm tùy trường hợp cụ thể.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật Hình sự.