1. Vu khống, đưa thông tin sai sự thực, xúc phạm danh dự người khác sẽ bị xử lý thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi tên T, xin hỏi tôi bị mấy người khác nhắn tin lăng mạ sỉ nhục nói tôi tống tiền trục lợi..nói cho người này người kia biết là tôi hám tiền trục lợi này kia..khi chính ông lúc trước cho tui 1 số tiền để bồi dưỡng sức khỏe tinh thần suy sụp..khi con ông ta quan hệ dụ dỗ rồi bỏ rơi..và làm giấy tờ cam kết không ai trong gia đình người iu của a ta sau này có quyền chửi hay xúc phạm đến tôi..
Dậy mà bây giờ ông ta tráo trở nói với tất cả mọi người này kia nói tôi tống tiền trục lợi..dậy thì cho hỏi tôi có thể nộp đơn nói ông ta lăng mạ sỉ nhục..và tôi có được bồi thường danh dự không ạ ?
Xin cảm ơn!

Vu khống, đưa thông tin sai sự thực, xúc phạm danh dự người khác sẽ bị xử lý thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội vu khống, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 604 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 quy định như sau:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Như vậy, để xác định họ có phải bồi thường cho bạn hay không thì cần phải xác định họ có hành vi trái quy định của luật, họ có lỗi và gây ra thiệt hại. Theo dữ liệu bạn đưa ra thì ông ta nói với tất cả mọi người là bạn trục lợi do đò ở đây hành vi của ông ta được xác định là hành vi có lỗi và đồng thời cũng là hành vi trái quy định theo Điều 37 Bộ luật Dân sự.

"Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ."

Có thể thấy rằng trong trường hợp này ông ta có lỗi, có hành vi trái quy định pháp luật đồng thời gây ra hậu quả do đó bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu đòi ông ta phải bồi thường cho bạn.

tôi tên là dũng. tôi xin trình bày sự việc như sau. cách đây 3 năm thi tôi có cho gia đình nhà hàng xóm mượn 30 triệu đồng va sau 3 năm đả quá hạn trả nợ lâu rồi mà gia đình đó chỉ trả lải chứ không trả gốc cho gia đinh trúng tôi......vi vây nên gia đinh tôi và gia đình hàng xóm củng có nhiu búc xuc..... vì thế gia đình tôi đả qua gia đình hàng xóm lấy chiếc xe máy tay ga tầm khoảng 30 triệu đòng về nhưng lại bị gia đinh đó kiện tội chiếm đoạt tài sản mà con vu khống gia đình tôi đả lấy 30 triệu đồng trong cốp xe nưa..... vì vậy gia đình tôi rất hoang mang. xin các luật sư cho tôi hướng giải quyêt. tôi xin cam ơn

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì gia đình bạn có cho gia đình hàng xóm vay 30 triệu nhưng lại không có nói họ có thể chấp tài sản gì hay không. Do vậy, chúng tôi có thể hiểu rằng đây là trường hợp vay không có thế chấp. Như vậy, gia đình bạn sang nhà của họ để lấy xe là hoàn toàn trái quy định của pháp luật, trong trường hợp này, gia dình bạn có thể phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định của Điều 135 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009):

"Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm..."

Thưa luật sư, xin hỏi: Ngày 06 tháng 3 năm 2016 gia đình bên cạnh nhà tôi là ông Hưng cho mẹ già nhà ông ta sang ném đá vào nhà tôi và chạy vào nhà tôi nằm lăn ra đất ăn vạ. Do gia đình tôi bán hàng nên khách khứ đông bà ta thấy khó xử và tự động đứng dậy đi về. Sang ngày hôm sau ông Hưng mang đơn lên công an xã kiện bố tôi đánh bà ấy phải nằm một chỗ. công công an đã đến nhà xác nhận vụ việc là không có thật. Đến ngày mùng 8 tháng 5 bà mẹ ông Hưng qua đời vì tuổi già. Khi làm ma chay cho ba ta xong ông ta lại kiện bố tôi về việc như trên. Xin luật sư cho tôi biết tôi phải làm gì để lấy lại công băng cho bố tôi ạ. xin nói thêm là ông ta đã vu khống bố tôi rất nhiều chuyện và cũng nhiều lần gây rối gia đình tôi. Cứ cho qua mãi thì ông ta càng lấn tới ? Xin cảm ơn luật sư ạ

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì ông Hưng đã có nhưng hành vi bịa đặt bố bạn đã đánh mẹ ông Hưng để nhằm một mục đích nhất định. Nếu như hành vi bịa đặt này của ông Hưng nhằm xúc phạm danh dự hay gây ra thiệt hại đến lợi ích của bố bạn thì bố bạn hoàn toàn có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan nhà nước xử lý vi phạm hành chính đối vơi hành vi của ông Hưng theo quy định của Khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;
b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;
c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng..."

Hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 122 Bộ luật Hình sự:

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thưa luật sư, Hiện tại em đang trog tình trạng anh B nói em đe dọa làm ảnh hưởng đến sức khỏe , tinh thần của bạn anh B , anh B bảo sẽ để công an xem xét các cuộc gọi cũng như tin nhắn của em gửi cho chị A . Chuyện em muốn được hỏi là anh B nói như vậy có phải vu khống không ạ , và nếu điều tra ra được em không hề đe dọa thì mà do chị A đó bịa đặt thì phải làm sao ạ Câu hỏi thứ hai là Em quen hệ với một bạn gái lúc quen hệ chưa 15 nhưng sau 1 tuần cô ấy đã đủ 16 tuổi ạ vậy nếu bây giờ gia đình cô ây biết thì sao ạ , mặc dù cô ấy tự nguyện . Vậy em có phạm tội không ạ. Mong được luật sư tư vấn giúp em ạ
Thưa luật sư, Trước tiên xin kính chào đoàn luật sư minh khuê. Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ, tư vấn về luật của các luật sư. Tôi xin trình bày sự việc như sau: Vào ngày 12 tháng 4 năm 2016, có một người con gái khoảng chừng 17 tuổi đã vu khống cho anh trai tôi. Nói anh trai tôi hiếp dâm nó, và đòi anh trai tôi phải bồi thường cho nó. Nhưng anh trai tôi một mực nói là không hề đụng đến người con gái đó, hiện tại anh trai tôi 32 tuổi. Tôi thấy việc này đã gây thiệt hại rất lớn đến danh dự, nhân phẩm. cuộc sống của anh trai tôi. Nên tôi kính mong luật sư tư vấn cho tôi cách giải quyết và anh trai tôi phải làm gì để gia đình bên con gái đó phải bồi thường về việc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của anh trai tôi! Tôi xin nhận nơi đây lòng thành thật và biết ơn!
Thưa luật sư, xin tư vấn giúp tôi một việc như sau: Hiện tôi là quân nhân nhưng đời sống vợ chồng không được hạnh phúc, vì công việc nên tôi phải ở cùng nhà với mẹ vợ. Vợ tôi thì không hiểu tôi luôn chửi bớt làm nhục tôi. Gần đây nhất cô ấy còn vu khống tôi ngoại

Cấu thành tội vu khống theo quy định của Điều 122 Bộ luật Hình sự như sau:

1. Dấu hiệu pháp lý

- Khách thể là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của con người. Đối tượng tác động là con người.

- Khách quan:

+ Hành vi bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Đây là hành vi cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật nhằm bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc làm ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

+ Hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của người khác. Đay là trường hợp chử thể không phải là người tạo ra thông tin bịa đặt đó nhưng khi thu được thông tin họ cố ý làm cho người khác biết mặc dù họ biết rõ đó là thông tin bịa đặt.

+ Hành vi bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Tội phạm hoàn thành ngay từ khi những hành vi nói trên được thực hiện không phụ thuộc vào việc quyền lợi của nạn nhân đã bị xâm hại hay chưa.

- Chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp

- Chủ thể: là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên.

2. Hình phạt

- Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

+ Có tổ chức;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với nhiều người;

+ Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

+ Đối với người thi hành công vụ;

+ Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, nếu đáp ứng được những yếu tố cấu thành nên tội vu khống như đã phân tích ở trên thì họ mới phạm tội vu khống.

Tại thời điểm quan hệ bạn đã thành niên và cô bạn gái dưới 16 tuổi thì dù hai bạn có tự nguyện giao cấu thì bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Hình sự như sau:

"Điều 115. Tội giao cấu với trẻ em

1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội."

Kính gửi luật sư, Kính nhờ luật sư tư vấn giúp em trường hợp sau: Năm 1990, ông bà ngoại em đi định cư nước ngoài nên ký giấy bán căn nhà đang ở cho ba mẹ em (có xác nhận của chính quyền địa phương). Sau đó, ba mẹ em hoàn tất các thủ tục cần thiết để đồng đứng tên sổ hồng sở hữu nhà. Nay mẹ em bệnh nặng nên ba mẹ chuyển căn nhà qua tên em bằng thủ tục cho tặng nhà, có công chứng. Hiện nay, ông ngoại mất, bà ngoại em cùng với cậu em yêu cầu mẹ trả lại căn nhà, khẳng định không hề ký giấy buôn bán gì vào năm đó. Đồng thời nói ba me em lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của ông bà. Cậu còn tung tin lên mạng vu khống ba mẹ em. Vậy xin hỏi luật sư, trong trường hợp này bà và cậu em có quyền gì không?Có thể khởi kiện được không? Rất mong sớm nhận được hồi đáp. Trân trọng, Thuỳ Trang

Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

"Điều 4. Quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác"

Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

"Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

1. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

2. Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định."

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì bà ngoại bạn và cậu bạn có quyền yêu cầu cơ quan Tòa án đảm bảo quyền lợi cho mình nhưng họ phải cung cấp chứng cứ chứng minh đây là tài sản của mình và phải bố mẹ bạn đã lừa dối, cưỡng ép ông bạn đưa tài sản.

Thưa luật sư.Em xin được tư vấn. Em lấy chồng được hai tháng. Nhưng trong hai tháng đó, chồng em đánh đập, xúc phạm, đề doạ, vu khống em, còn viết đơn kiện em nhưng công an UBND nơi em ở có điều tra và ra kết luận là chồng em vu khống em. Em có tìm hiểu về việc ly hôn đơn phương. Nhưng hiện tại chồng em cầm hết giấy tờ,em cũng không có chứng minh và hộ khẩu của chồng. Em cũng không nhớ ngày đăng ký kết hôn . Vậy em muốn đơn phương ly hôn phải làm sao? Mong luật sư tư vấn và giúp đỡ em.

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, nếu bạn có căn cứ về việc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì bạn hoàn toàn có quyền làm đơn xin ly hôn đơn phương.

Trong trường hợp của bạn hiện đã bị chồng giữ tất cả những giấy tờ để có thể ly hôn. Vì vậy, bạn cần đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương để được xin cấp lại:

+ Về hộ khẩu và chứng minh nhân dân: Liên hệ với công an cấp xã ( phường ) nơi bạn thường trú nhờ họ xác nhận là nhân khẩu thường trú tại địa phương. Việc xác nhận này bạn có thể làm một đơn riêng, cũng có thể nhờ xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

+ Về hôn thú: Liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn nơi bạn đăng ký kết hôn trước đây để xin cấp bản sao.

+ Về khai sinh: Liên hệ với cơ quan có thẩm quyền nơi bạn đăng ký khai sinh cho con trước đây để xin cấp bản sao.

Khi liên hệ với các cơ quan chức năng để làm các giấy tờ nói trên, bạn có thể nói rõ về chuyện chồng bạn cầm hết giấy tờ và bạn muốn ly hôn nhưng chồng bạn không đồng ý cho các cơ quan chức năng, kể cả tòa án biết để các cơ quan này giúp đỡ. Khi nộp đơn cho tòa án, nếu vẫn thiếu giấy tờ nào đó mà bạn không thể bổ sung được thì bạn vẫn yêu cầu tòa nhận đơn, trong quá trình thụ lý và giải quyết tòa án sẽ yêu cầu người chồng bổ sung sau.

Thưa Luật sư: Ngày 25/12/2015 tôi có ghi biên nhận tiền mua bát, cốc vào một quyển sổ cho một khách hàng bảo việt của tôi và có ký nhận tiền . Ngày 19/03/2016 khách khách đấy và một số người nhà mang một tờ giấy phô tô có ghi nhiều nội dung . Họ che nội dung trên và yêu cầu tôi nhận chữ ký dưới nội dung tờ giấy đấy mà tôi chưa biết là có phải chữ ký của tôi không. Tôi nói tôi không nợ nần ghi tôi không nhận. Sau đó tôi có trình báo công an địa phương về việc vu khống này. Công an có mời hai bên đến lấy lời khai và đối chất. Tôi mới được biết tờ giấy đấy có ghi tôi đã nhận nợ số tiền là 2.5 tỷ đồng từ năm 2012 đến nay và hẹn đến 20/3/2016 là trả hết. Tôi ngỡ ngàng mới biết họ vu khống cho tôi nợ họ số tiền lớn như vậy. Xin hỏi luật sư với sự việc này tôi nên làm đơn kiện tới cơ quan nào . Tôi xin cảm ơn Luật sư.

Theo dữ liệu bạn đưa ra chúng tôi có thể thấy rằng hành vi của họ đã cấu thành nên tội lừa đảo chiểm đoạt tài sản theo quy định của Điều 139 Bộ luật Hình sự:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Phân tích cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

1. Chủ thể

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 139 thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 139 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

2. Khách thể


Quan hệ sở hữu

Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu them trách nhiệm hình sự về tội khác.

3. Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng.

Lưu ý: Gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao)

Ngoại lệ: Tài sản từ 2 triệu đồng trở lên, nếu có giá trị rất lớn như ô tô, xe máy, máy tính… thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn bị coi là phạm tội

4. Mặt chủ quan của tội phạm

- Lỗi cố ý

- Mục đích: chiếm đoạt tài sản; thực hiện được thủ đoạn gian dối (mong muốn người khác tin mình)

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Nên làm thế nào khi bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi xin nhờ luật sư hỗ trợ và cách viết đơn để giải quyết việc gia đình tôi thường xuyên bị bà hàng xóm chửi bới, xúc pham danh dự gia đình tôi ? Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Bạn có thể tham khảo các mẫu đơn sau: Mẫu đơn khởi kiệnMẫu đơn tố giác tội phạm

Thưa luật sư, xin hỏi: Vào ngày 25/05/2016 trong lúc đang trực ca tại FPT tôi có đánh rơi ví tiền,cùng ngày hôm đó có một đồng chí củng đánh rơi ví tiền,vào khoảng 20h30 tôi đi tuần tra khu vực có nhặt lại được ví tiền camera quay lại được lúc tôi nhặt ví tiền đó,đồng chí đó quan sát cammera thì thấy tôi có nhặt một cái ví tiền và khẳng định là ví tiền của đồng chí đó tôi đã giải thích nhưng đồng chí không tin và báo công an bắt tôi và bắt tôi hoàn trả số tiền mà đồng chí đã mất, vạy cho hỏi tôi có phải hoàn trả số tiên đó không va tôi muốn gửi thư luật sứ để yêu cầu đòng chí đó bồi thường danh dự có được không?

Mỗi một cá nhân, pháp nhân hay những chủ thể khác đều có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền nhà nước xem xét, bảo vệ quyền sở hữu cho mình, cụ thể Điều 169 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 quy định:

"Điều 169. Bảo vệ quyền sở hữu

1. Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ.

2. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình.

Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật.

3. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc của chủ thể khác theo quy định của pháp luật."

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì trong cùng ngày 25/5/2016 cả bạn và cả đồng chí làm cùng đều làm mất ví do đó để có thể khẳng định ví và tiền này là của ai thì cần phải kiểm tra và xác minh. Việc yêu cầu bạn hoàn lại tiền cho đồng chí làm cùng là chưa đủ căn cứ.

Bạn có yêu cầu muốn được bồi thường danh dự bạn phải có căn cứ chứng minh mình bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Thưa luật sư, Bạn tôi bị nghi ngờ ăn trôm tài sản của người khác. Bị tố cáo lên công an phường 2 ngày làm tôi mất danh phẩm,danh dự,suy sup tinh thần.tôi muốn được bồi thường thì phải làm như thế nào. Ngày bạn tôi mời lên công an phường là ngày đầu tiên xin đi học nghề. Dạng vừa học vừa làm. Thì phải làm sao? Gửi từ điện thoại thông minh Samsung Galaxy của tôi.

Nếu bạn của bạn có căn cứ chứng minh mình bị người khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm thì người bạn đó hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết quyền lợi cho mình. Cụ thể, Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại khi danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm như sau:

"Điều 611. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Trân trọng ./.

3. Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác bị xử lý thế nào?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau: Con tôi là học sinh lớp 12, học giỏi lại ngoan nên được mọi người xung quanh yêu mến, quý trọng. Thế nhưng H. (bạn học) luôn ghen ghét, đố kị và luôn có thái độ khó chịu với con tôi.

Một hôm trên đường đi học về H. đã nhờ một nhóm bạn xấu chặn đường chửi bới, dọa nạt, tạt tai, nói xấu và xé rách áo con tôi trên đường trước rất đông bạn bè và người đi đường. Trong trường hợp này H. (bạn của con tôi) sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

Xin cảm ơn Luật sư!

Người gửi: Lê Như Hảo

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

H. có hành vi chặn đường chửi bới, dọa nạt, tạt tai, nói xấu và xé rách áo của con bạn trên đường trước rất đông bạn bè và người đi đường, đây là hành vi xâm phạm thân thể và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

Nếu hành vi ở mức độ nhẹ và không tiếp diễn, không gây hậu quả nghiêm trọng cho con bạn thì bạn có thể khuyên H. và gia đình H. tôn trọng con bạn, không tiếp tục ghen ghét, đố kỵ và thực hiện những hành vi như trên; thông qua việc bạn đưa ra những căn cứ về việc pháp luật tôn trọng và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, thân thể của công dân như sau:

Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức hay bất cứ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Điều 37 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Nếu hành vi đã gây hậu quả nghiêm trọng cho con bạn hoặc vẫn tiếp diễn thì bạn có thể gửi đơn đến nhà trường, hoặc cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan công an, Tòa án nhân dân cấp huyện...) để được giải quyết.

Con của bạn có quyền yêu cầu H. bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con bạn theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự:

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm được quy định tại Điều 611Bộ luật Dân sự:

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Ngoài ra, nếu hanh vi của H. thỏa mãn cấu thành tội phạm thì H. có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Hình sự:

Điều 121. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:
a) Phạm tội nhiều lần;
b) Đối với nhiều người;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng./.

4. Tư vấn xử lý khi bị người khác giả tên facebook, nói xấu và xúc phạm danh dự ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có 1 chị gái đã có gia đình nhưng trong khi đi học 1 lớp mở rộng có quen 1 thầy giáo. Sau khi học xong 2 người cũng thường xuyên liên lạc với nhau qua máy tính vì 2 người ở xa nhau người ở Quảng Ninh, người ở Thái Nguyên họ chưa hề gặp nhau ngoài đời trừ lúc trên lớp (1 tuần học).

Sau 1 thời gian nói chuyện với nhau 1 hôm chị tôi vô tình đọc được những tin nhắn giận dỗi của vợ thầy giáo đó (qua team view) nên đã chủ động không liên lạc nữa. Về phía thầy giáo kia có vẻ rất buồn nên đã đăng những dòng tâm trạng lên facebook, đương nhiên là vợ thầy giáo phát hiện và đọc được dòng tin nhắn của chị tôi với nội dung " hãy tạm dừng lại đi trước khi quá muộn".

Sau đó vợ thầy giáo đã gọi điện, nhắn tin chửi chị tôi, vì chị tôi thấy cũng có lỗi vì đã giữ liên lạc với thầy nên thầy mới vậy nên nhắn tin xin lỗi vợ thầy và từ đó thay đổi số điện thoại nhưng vợ thầy giáo đó còn lập 1 nick facebook giả tên chị tôi kết bạn với những người bạn của chị tôi để rồi lăng mạ chị tôi.

Vậy tôi xin hỏi trong trường hợp này ai sai, ai đúng ? Và phía chị tôi phải xử lý thế nào để chị tôi có thể yên ổn để sống ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.T

Tư vấn xử lý khi bị người khác giả tên facebook, nói xấu và xúc phạm danh dự ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Như bạn trình bày, vợ thầy giáo đã lập nick facebook giả tên chị bạn để kết bạn với những người bạn của chị và lăng mạ cô ấy. Như vậy, đây là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy mức độ vi phạm mà hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu TNHS:

1. Xử phạt vi phạm hành chính

Vợ thầy giáo phải chịu xử phạt hành chính theo quy định tại Điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện:

Điều 66. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

..

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

2. Truy cứu trách nhiệm hình sự

Trong trường hợp vợ thầy giáo facebook để xúc phạm nhân phẩm, danh dự của chị bạn đến mức nghiêm trọng thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội làm nhục người khác” theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009:

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a - Phạm tội nhiều lần;

b - Đối với nhiều người;

c - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d - Đối với người thi hành công vụ;

đ - Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Như vậy, chị bạn có thể nhờ các cơ quan có thẩm quyền để can thiệp, như phản ánh hành vi vi phạm đến cơ quan công an để điều tra, xử lý người vi phạm theo đúng quy định pháp luật.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật dân sự : 1900.6162 . Trân trọng./.

5. Xử phạt khi đài phát thanh có hành vi xúc phạm danh dự người khác ?

Thưa luật sư tôi có câu hỏi tư vấn như sau: Lúc 23h 00 phút, ngày 19 tháng 09 năm 2013. Em trai tôi điều khiển xe môtô, tự té và làm bể 1 cái lu nằm trong lề đường. Sau đó, bị mảnh vỡ của lu cắt đứt động mạch chủ của em trai tôi dẫn đến tử vong ở kênh 10 trên địa bàn nơi tôi cư trú. Ngay sau tai nạn, ngay lập tức có rất nhiều người dân ở gần đó đến để mong muốn giúp đỡ nhưng không cứu được.

Họ thấy rất nhiều máu từ cổ em trai tôi chảy ra mặt đường. Theo điều tra sơ bộ ban đầu của công an Xã và công an Huyện, trước khi điều khiển xe môtô em trai tôi có sử dụng rượu bia. Nhưng chưa xác định được là bao nhiêu miligam/100 mililít máu. Khoảng 10h sáng ngày 20 tháng 09 năm 2013. Cơ quan giám định pháp y của Huyện đến nhà tôi ở kênh 12 (cách hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông 2km) để khám nghiệm tử thi em trai tôi và lấy mẫu máu về xét nghiệm. Ngày 23 tháng 09 năm 2013. Đài truyền thanh Xã đưa thông tin về vụ tai nạn của em trai tôi và khẳng định rằng: em trai tôi điều khiển xe môtô trong tình trạng có sử dụng rượu bia, qua đó cũng lấy em trai tôi ra làm bài học cho mọi người dân trong xã. Gia đình tôi sau khi nghe thông tin này phát trên Đài truyền thanh Xã, đã yêu cầu họ không được đưa thông tin này nữa, vì mọi việc vẫn đang trong quá trình điều của công an Huyện. Đài truyền thanh cũng không đưa thông tin nữa. Hơn 6 tháng sau, gia đình tôi nhận được kết quả của Cơ quan pháp y.

Nguyên nhân tử vong của em trai tôi là: tự té, động mạch chủ bị đứt, mất máu dẫn đến tử vong. Họ giải thích với gia đình tôi là mẫu máu lấy từ người em trai tôi đã đông nên không thể xác định được nồng độ cồn trong máu là bao nhiêu. Họ cũng giải thích với gia đình tôi là: cơ địa của mỗi người khác nhau nên không thể xác định được trong lúc điều khiển xe em trai tôi có sử dụng thức uống có nồng độ cồn vượt mức cho phép hay không ?

Sau khi, được gia đình tôi yêu cầu Đài truyền thanh Xã cũng đưa thông tin này được 2 ngày. Ngoài ra, không có bất cứ điều gì thêm đối với em trai tôi, không có 1 văn bản hay lời xin lỗi chính thức nào dành cho em trai tôi. Xin cho tôi hỏi việc làm của Đài truyền thanh Xã có được coi là xúc phạm danh dự của em tôi hay không và sẽ bị phạt như thế nào? Tôi phải chuẩn bị những giấy tờ gì ? Gửi đến cơ quan nào ? để em trai tôi được bồi thường về mặt danh dự.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Theo Điều 20 Hiến pháp năm 2013: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức hay bất cứ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Điều 37 Bộ luật Dân sự 2005 (Bộ luật Dân sự năm 2015) quy định: Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Hành vi của Đài phát thanh xã là đưa tin chưa xác thực, chưa được xác nhận bởi cơ quan chức năng có thẩm quyền làm ảnh hưởng tới uy tín, danh dự của em trai bạn nhất là khi em trai bạn đã mất.

Sau khi có kết luận của cơ quan điều tra và cơ quan Pháp y, bạn có thể mang những kết luận này làm căn cứ chứng minh yêu cầu đài phát thanh xã bồi thường thiệt hại về danh dự nhân phẩm cho em trai bạn. Theo Điều 604 Bộ luật dân sự:

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm được quy định tại Điều 611 Bộ luật Dân sự:

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Theo đó, để được bồi thường, bạn phải chứng minh được các tổn thất do hành vi xâm hại danh dự nhân phẩm đem lại. Vì đài phát thanh xã là một kênh thông tin có độ phổ biến khá rộng nên bạn có thể yêu cầu cơ quan này công khai xin lỗi em trai bạn, gia đình bạn và đính chính lại thông tin đã phát theo kết luận chính xác của cơ quan có thẩm quyền.

Bạn có thể khởi kiện dân để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và gia đình đồng thời yêu cầu người gây ra thiệt hại phải bồi thường.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

Đơn khởi kiện

Tài liệu chứng minh nội dung khởi kiện là có cơ sở

CMND, hộ khẩu

Hồ sơ khởi kiện được nộp ra tòa án nhân dân quận huyện nơi đài phát thanh có trụ sở.

Ngoài ra bạn cũng có thể làm đơn tố cáo hành vi của đài phát gửi ra công an khu vực, nếu đủ cơ sở chứng minh, tùy theo mức độ, hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại các điều sau:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng – Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng ./.

6. Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác bị xử lý thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Nếu bị xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của mình sẽ bị xử phạt như thế nào ? Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật Bảo hiểm xã hội trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vì bạn không nêu rõ trường hợp của mình nên chúng tôi xin đưa ra các trường hợp sau đây:

- TH1: Xử phạt vi phạm hành chính.

Điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;"

- TH2: Truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

"Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

>> Bài viết tham khảo thêm: Tội xâm phạm đến sức khỏe danh sự và nhân phẩm bị phạt như thế nào?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê