A và B đều biết rõ việc mua bán ma túy trên với C. Mua xong, B đưa gói heroin của B cho A cầm rồi dùng xe máy chở A về nhà A. B lấy lại gói ma túy của mình rồi về nhà. Khi B lấy gói ma túy ra chuẩn bị sử dụng thì bị công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ 0,2g heroin, B khai rõ việc dùng xe máy chở A đi mua ma túy. Công an tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của A và thu giữ 0,4g heroin, A thừa nhận đã nhờ B chở đi mua ma túy tại nhà C, Công an đã bắt, khám xét khẩn cấp C thu giữ 4,1 g heroin và 05 gam Methamphetamin, C khai số ma túy đó tàng trữ để bán cho người nghiện kiếm lời. A,B,C đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vậy xin hỏi luật sư tư vấn cho e: 1. A, B,C phạm tội gì? cách tính số lượng ma túy của C như thế nào? 2. Những vấn đề cần làm rõ để xác định tội danh và xử lý vụ án. Xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật hình sự, gọi: 1900 6162

Nội dung trả lời

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

I. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự 1999 Sửa đổi, bổ sung năm 2009

Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT_BCA_VKSNDTC_TANDTC-BTP về các tội phạm về ma túy

II. Nội dung tư vấn

Ma túy là các chất gây ghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành. Căn cứ vào danh mục chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định 82/2013/NĐ_CP thì Heroin và Methamphetamin đều là các loại chất ma túy.

Căn cứ vào thông tin mà bạn cung cấp, các hành vi của các đối tượng trên bao gồm:

A: mua và bán heroin, vận chuyển heroin

B: mua heroin, vận chuyển heroin

C: tàng trữ, mua và bán heroin và Methamphetamin

Theo quy định tại Điều 194 BLHS:

"Điều 194.  Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy                

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy  năm." Như vậy, BLHS chỉ định tội chung cho cả nhóm tội (táng trữ, vận chuyển, mua bán chất ma túy) mà không có định tội riêng với từng tội danh. Việc xác định tội danh của người thực hiện một hoặc một số hành vi trên dựa trên hành vi thực tế mà người đó đã thực hiện và quy định tại các thông tư liên tịch hướng dẫn quy định của BLHS về "các tội phạm về ma túy".

Theo quy định tại điểm 3.5 Mục I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT_BCA_VKSNDTC_TANDTC_BTP:

"3.5. Trường hợp một người thực hiện một hoặc nhiều hành vi phạm tội quy định trong một điều luật (Điều 194, Điều 195 và Điều 196 của BLHS) thì cần phân biệt như sau:

a) Trường hợp một người chỉ thực hiện một trong các hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 194 (hoặc Điều 195 hoặc Điều 196) của BLHS thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tên tội danh về hành vi phạm tội đã thực hiện theo điều luật tương ứng.

b) Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 194 (hoặc Điều 195 hoặc Điều 196) của BLHS mà các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia), thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ đối với tất cả các hành vi đã được thực hiện theo điều luật tương ứng và chỉ phải chịu một hình phạt.

c) Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 194 (hoặc Điều 195 hoặc Điều 196) của BLHS mà các hành vi đó độc lập với nhau, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội độc lập mà người ấy đã thực hiện. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 50 của BLHS để quyết định hình phạt chung."

Căn cứ vào quy định trên, ta nhận thấy:

Đối với trường hợp của A, đối với số lượng 0,4 g heroin, A mua và vận chuyển heroin từ nhà C về nhà A  là nhằm mục đích phục vụ cho việc bán lẻ heroin tại nhà mình và việc mua, vận chuyển là điều kiện để thực hiện việc bán lẻ heroin. Căn cứ và quy định tại điểm 3.5.b trên, A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với Tội danh "mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 194 BLHS đối với khối lượng 0,4 g heroin. Đối với hành vi vận chuyển giúp 0,2 g heroin cho B, đây là hành vi độc lập với việc mua bán heroin của A, do đó, căn cứ vào quy định tại điểm 3.5.c trên, A còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh "vận chuyển trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 194 BLHS đối với khối lượng 0,2 g heroin.

Đối với trường hợp của B, việc mua heroin của B là để sử dụng mà không nhằm mục đích để bán, do đó không bị truy cứu TNHS về tội danh "mua bán trái phép chất ma túy". Thay vào đó, B dùng xe máy chở A cùng với số lượng 0,6 g heroin (bao gồm: 0,4 g heroin của A và 0,2 g heroin của B) về nhà A. Do đó, B sẽ bị truy cứu TNHS với tội danh "vận chuyển trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 194 BLHS đối với khối lượng 0,6 g heroin.

Đối với trường hợp của C, việc mua, tàng trữ heroin và Methamphetamin là nhằm mục đích bán lại cho người khác sử dụng. Các hành vi này của C có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc mua, tàng trữ các chất trên là điều kiện để thực hiện việc bán chúng. Căn cứ theo quy định tại điểm 3.5.b trên, C sẽ bị truy cứu TNHS với tội danh "mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 194 BLHS đối với khối lượng 4,7 g heroin (trong đó có 0,6 g heroin đã bán cho A và B; 4,1 g thu giữ tại nhà) và 5 gam Methamphetamin.

Cách tính tổng số lượng ma túy của C:

Theo thông tin mà bạn cung cấp, khối lượng heroin để định tội C là 4,7 g (nhỏ hơn mức tối thiểu để định khung theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 194 BLHS là 5 g), khối lượng Methamphetamin là 5 g (nhỏ hơn mức tối thiểu để định khung theo quy định tại điểm m khoản 2 Điều 194 BLHS là 20 g).

Theo quy định tại điểm 2.5 Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT_BCA_VKSNDTC_TANDTC_BTP:

"2.5. Tình tiết “có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng của chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm i khoản 2, điểm e khoản 3, điểm đ khoản 4 Điều 193 hoặc điểm o khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 194 của BLHS được xác định như sau:

a) Trường hợp các chất ma túy đó đều có trọng lượng dưới mức tối thiểu quy định tại khoản 2 (tức thuộc khoản 1) Điều 193 hoặc khoản 2 Điều 194 của BLHS, thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định theo các bước sau đây:

Bước 1: Xác định tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy đó tại điểm tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 193 hoặc khoản 2 Điều 194 của BLHS.

Bước 2: Cộng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của từng chất ma túy lại với nhau.

Bước 3: Xác định điểm, khoản, điều luật. Nếu tổng các tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy dưới 100%, thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 193 hoặc khoản 1 Điều 194 của BLHS, nếu tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy từ 100% trở lên, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tình tiết định khung: “Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương ứng với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ…” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 193 hoặc điểm o khoản 2 Điều 194 của BLHS."

Căn cứ vào quy định trên, ta tính số lượng ma túy của C như sau:

B1: - Tỉ lệ phần trăm của heroin mà C có so với mức tối thiểu quy định tại điểm h khoản 2 Điều 194 BLHS là 94%

       - Tỉ lệ phần trăm của  Methamphetamin mà C có so với mức tối thiểu quy định tại điểm m khoản 2 Điều 194 BLHS là 25%

B2: Tổng tỉ lệ phần trăm của hai loại ma túy trên là 119%

B3: Tổng lượng ma túy của C được xác định tương đương số lượng ma túy quy định tại Điểm h hoặc điểm m khoản 2 Điều 194 BLHS. Nghĩa là tổng lượng ma túy của C tương đương 5,95 g heroin ( tức 119% của 5 g heroin) hoặc 23,8 g Methamphetamin (tức 119% của 20 g Methamphetamin).

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự.