Số cổ phần tạm tính của tôi là 5% Khi giao tiền thì Giám đốc có hứa hẹn tầm cuối tháng mười sản phẩm sẽ hoàn thành, đồng thời thu xếp công việc cho tôi để nắm bắt và quản lý dòng sản phẩm. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, máy vẫn chưa hoàn thành, và khi tôi đề cập đến thì đều nhận được câu trả lời "đang làm" nhưng Giám đốc không đưa ra được giấy tờ gì chứng minh, chỉ hứa hẹn thời điểm họp cổ đông khi tôi yêu cầu, đồng thời có biểu hiện muốn hạn chế tôi có mặt tại văn phòng công ty ông ta: gọi điện thoại ít khi nghe máy; khi đến văn phòng thì thường viện cớ bận rộn, soạn thảo văn bản này nọ nên không nghe chuông bấm, phải một lúc sau mới mở cửa; đỉnh điểm là ngày 08/01/2016, khoảng 9 giờ 30, tôi qua công ty (mở cửa sắt, chỉ đóng cửa kính) bấm chuông không có người mở cửa, gọi điện thoại ông Giám đốc không nhận (từ chối cuộc gọi), khi gặp Giám đốc và vòng về công ty thì nhân viên (trực văn phòng công ty) trả lời rằng thấy tôi nên mới không mở cửa. Ông Giám đốc nhận tiền góp vốn của tôi hiện đang ở Sài Gòn (tạm trú tại địa chỉ văn phòng chi nhánh phía Nam của công ty ông ta), địa chỉ thường trú ở Quảng Trị, trụ sở công ty ngoài Hà Nội, tôi có giữ bản scan photo cmnd không công chứng của ông ta Với các dấu hiệu trên, tôi nghi ngờ ông Giám đốc đang lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và có mong muốn rút vốn. Xin hỏi luật sư, liệu tôi có thể rút vốn hoặc đưa vụ việc ra pháp luật không, nếu được thì phải liên hệ ở địa chỉ nào?

Tôi xin cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự  Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau

 

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.   

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội.   

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất: Về trách nhiệm hình sự của giám đốc công ty A

Theo như bạn trình bày, giữa bạn và giám đốc công ty A( anh X) có cam kết góp vốn để sản xuất một thiết bị sản phầm y tế. Tuy nhiên đến thời điểm cam kết sản phầm ra đời thì vẫn chưa hoàn thành, đồng thời giám đốc công ty A không đưa ra được chứng minh, viên cơ bận rộn, hạn chế nghe điện thoại, trốn tránh việc gặp mặt. Hành vi của giám đốc công ty A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

Căn cứ vào Điều 139 BLHSTội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Thứ 2: Về việc có đưa vụ việc trên ra pháp luật được không?

Điều 101 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định

"Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền cũng như thời gian giải quyết quy định tại điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

"1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

3. Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

4. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố."

Trong trường hợp này, bạn có thể tố cáo với cơ quan công an nơi bạn cư trú. Sau khi xác định cơ quan có thẩm quyền, cơ quan công an sẽ làm thủ tục chuyển quyền điều tra vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự.