Bây giờ Em vẫn đang nói chuyện với kẻ này nhưng là Em đã biết bị lừa và khuyên bảo họ không nên làm như vậy. Thông tin tài khoản gửi tiền có tác dụng gì trong vụ này không ah?

Xin anh chị tư vấn giúp Em, Em định bỏ qua nhưng sợ lại có người nhẹ dạ bị lừa như em.

Em đang rất bối rối mong anh chị phản hồi sớm ah. Em cảm ơn!

Người hỏi: Son Tran Thi

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi:  1900.1940

Tư vấn xử lý hành vi lừa đảo trúng xe SH qua facebook ?

Tư vấn xử lý hành vi lừa đảo trúng xe SH qua facebook

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Trên thực tế hiện nay hình thức lừa đảo qua mạng rất phổ biến, thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Để tránh bị lừa bản thân mọi người cần phải đề cao cảnh giác.

Thông tin tài khoản gửi tiền sẽ giúp cơ quan điều tra xác minh ai là người gửi, người nhận nhưng thực tế một khi đã thực hiện hành vi lừa đảo người phạm tội không bao giờ dùng thông tin chính xác để lập tài khoản mà họ sẽ sử dụng thông tin ảo, vì vậy để xác minh, buộc họ thực hiện trách nhiệm do hành vi của mình gây ra là rất khó khăn. 

Bạn có thể sử dụng mẫu sau để trình báo với cơ quan công an quận/huyện nơi bạn sinh sống để điều tra về hành vi này:

>> Tải: Đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo quy định của luật hình sự, thì đối tượng trên có dấu hiệu vi phạm luật hình sự theo:

 

Điều 139 luật hình sự năm 1999 quy định:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo điểm a, khoản 2, điều 1 luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định : "Sửa đổi cụm từ “năm trăm nghìn đồng” thành cụm từ “hai triệu đồng” tại khoản 1 các điều 139".

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê