Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư,

Email: saopkai

>> Luật sư tư vấn pháp luật hành chính qua điện thoại gọi:   1900 6162

Luật sư tư vấn pháp luật hianfh chính?

Luật sư tư vấn pháp luật hành chính - Ảnh minh họa

 

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý: Điều 136 Bộ luật hình sự quy định về tội cướp giật tài sản

Điều 136, Bộ luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định:

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười  năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu  thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương  tật từ 11% đến 30%;

g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

h) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm  chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Điều luật trên không mô tả cụ thể hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản nhưng chúng ta có thể hiểu hành vi khách quan của tội này là: lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản để nhanh chóng giật lấy tài sản và chiếm đoạt tài sản đó. Theo như bạn trình bày, nếu như bạn không có hành vi cướp giật dây bạc 1.5 cây và qua quá trình điều tra của cơ quan điều tra xác minh sự thật khách quan là bạn hoàn toàn không có hành vi trên thì bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản. Nếu kết quả điều tra cho thấy bạn có hành vi trên và đủ cấu thành tội phạm thì bạn sẽ bị truy cứu theo điều luật trên.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê 

-------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

2. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

3. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

4. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án;

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;