Tụi em đã làm thẻ xong nhưng khi về tụi em đã thấy sự việc có vấn đề và tụi em đã điện cho anh A bảo sẽ đi hủy thẻ. Luật sư cho em hỏi: Nếu như các thẻ ATM đó dùng không đúng mục đích thì tụi em có vi phạm pháp luật không ạ?

Em xin trân thành cảm ơn!.

Câu hỏi được biên tập từ bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn đã được đội ngũ Luật sư chúng tôi nghiên cứu dựa trên một số quy định của pháp luật điều chỉnh. Chúng tôi xin được phân tích theo hướng cụ thể như sau:

 

1.Cơ sở pháp luật:

- Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

- Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN quyết định của thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành quy chế phát hành, thanh toán sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ thẻ ngân hàng

2.Nội dung tư vấn.

2.1, Chịu trách nhiệm khi sự dụng thẻ ATM thuộc hành vi cấm.

Theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN có quy định một số hành vi cấm trong quá trình sự dụng thẻ tín dụng, thẻ ngân hàng và các nghĩa cụ của chủ thẻ có vi phạm.

Điều 30. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Làm, sử dụng, chuyển nhượng và lưu trữ thẻ giả;

2. Chủ thẻ chuyển nhượng thẻ cho người khác (trừ trường hợp đối với thẻ trả trước vô danh);

3. Sử dụng trái phép thẻ không phải do TCPHT phát hành cho chính mình;

4. Khai báo sai thông tin cá nhân, tổ chức hoặc giả mạo giấy tờ khi lập hồ sơ đề nghị sử dụng thẻ hoặc trong quá trình sử dụng thẻ;

5. Sử dụng thẻ đã được thông báo không được phép lưu hành;

6. Xâm nhập hoặc tìm cách xâm nhập trái phép vào chương trình hoặc cơ sở dữ liệu của hệ thống phát hành, thanh toán thẻ, thanh toán bù trừ giao dịch thẻ;

7. Thực hiện các giao dịch giả mạo;

8. Lấy cắp, thông đồng để lấy cắp thông tin trên thẻ.

Điều 13. Bảo đảm an toàn trong sử dụng thẻ

2. Trường hợp thẻ bị lợi dụng trước khi TCPHT có xác nhận bằng văn bản hoặc bằng thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý về việc đã xử lý thông báo nhận được từ chủ thẻ, chủ thẻ phải hoàn toàn chịu thiệt hại và bồi thường thiệt hại do việc để thẻ bị lợi dụng gây ra.

3. Trường hợp thẻ bị lợi dụng sau khi TCPHT có xác nhận bằng văn bản hoặc bằng thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý về việc đã xử lý thông báo nhận được từ chủ thẻ, TCPHT phải hoàn toàn chịu thiệt hại và bồi thường thiệt hại do việc thẻ bị lợi dụng gây ra.

Điều 22.Nghĩa vụ của chủ thẻ.

1. Cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin cần thiết theo yêu cầu của TCPHT khi yêu cầu phát hành thẻ và trong quá trình sử dụng thẻ;

2. Thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho TCPHT các khoản phí, tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thoả thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ;

3. Chủ thẻ chính, chủ thẻ phụ cùng chịu trách nhiệm chung và mỗi người chịu trách nhiệm riêng trong việc thực hiện các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ trong hợp đồng sử dụng thẻ giữa chủ thẻ và TCPHT. Chủ thẻ chính chịu trách nhiệm với TCPHT về việc sử dụng thẻ của chủ thẻ phụ, có trách nhiệm thanh toán cho TCPHT tất cả các giao dịch thẻ có chữ ký của chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ trên hóa đơn cũng như có sử dụng số PIN. Trường hợp chủ thẻ chính bị chết, mất tích, hoặc mất năng lực hành vi thì việc thanh toán cho TCPHT và việc thừa hưởng số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ chính hoặc số tiền còn lại trên thẻ trả trước định danh được thực hiện theo quy định của pháp luật;

4. Các nghĩa vụ khác trong hợp đồng sử dụng thẻ.

Điều 32. Xử lý vi phạm

Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định trong Quy chế này thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý vi phạm hành chính, trường hợp nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Trường hợp của bạn nếu Anh ta có sự dụng thẻ để thực hiện các giao dịch trái pháp luật hay giao dịch vi phạm hợp đồng sự dụng thẻ thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm với tư cách là chủ thẻ tùy theo mức độ nghiệm trọng.

Bạn chưa nói rõ hơn về việc "Tụi em đã làm thẻ xong nhưng khi về tụi em đã thấy sự việc có vấn đề và tụi em đã điện cho anh A bảo sẽ đi hủy thẻ".

Tóm lại, căn cứ vào thông tin bạn cung cấp ban đầu chúng tôi nhận thấy:

- Tức là sau khi làm xong đã thấy có vấn đề sinh nghi nên đề nghị anh hủy thẻ, lúc này có thể THẺ này vẫn chưa được TCPHT phát hành, sự dụng để giao dịch nên vẫn chưa thể có thiệt hại xảy ra.

- Bạn phải đề nghị ngay và cùng trực tiếp anh ta để đi hủy thẻ vì nếu sau khi anh ta lợi dụng để sự dụng bất hợp pháp mà gây thiệt hại cho người khác bạn mới thông báo cho Ngân hàng và đề nghị hủy thẻ thì bạn sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với tư cách là chủ thẻ.

- Nếu trường hợp anh ta vẫn cứ chay lỳ, không chịu hợp tác và không cho hủy thẻ ngay thì bạn phải ngay lập tức trình báo lên Cơ quan công an gần bạn cứ trú nhất để kịp thời ngăn chặn, xử lý.

2.2. Có thể bị xử lý hình sự?

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, quy định hành vi "rửa tiền" thông qua các giao dịch để tiến hành các hoạt động kinh doanh thì tùy theo mức độ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 251. Tội rửa tiền

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó;

b) Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

c) Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó;

d) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết rõ là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có.

Bên cạnh đó, được nêu rõ hơn quy định trên tại Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BTP-NHNNVN-TANDTC Hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và Tội rửa tiền.

Điều 3. Về tội rửa tiền (Điều 251 Bộ luật hình sự)

1. Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản là việc thực hiện, hỗ trợ thực hiện hoặc thông qua người khác để thực hiện, hỗ trợ thực hiện một trong các hành vi dưới đây nhằm che dấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó:

a) Gửi tiền và mở tài khoản tại ngân hàng;

b) Cầm cố, thế chấp tài sản;

c) Cho vay, ủy thác, thuê, mua tài chính;

d) Chuyển tiền, đổi tiền;

đ) Mua, bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác;

e) Phát hành chứng khoán;

g) Phát hành các phương tiện thanh toán;

h) Bảo lãnh và cam kết tài chính, kinh doanh ngoại hối, các công cụ thị trường tiền tệ, chứng khoán có thể chuyển nhượng;

i) Quản lý danh mục đầu tư của cá nhân, tập thể;

k) Quản lý tiền mặt hoặc chứng khoán thanh khoản thay mặt cho cá nhân, tập thể;

l) Đầu tư vốn hoặc tiền cho cá nhân, tập thể;

m) Tiến hành các hoạt động bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm liên quan đến các khoản đầu tư khác;

n) Những hoạt động nhằm tạo sự chuyển đổi, chuyển dịch hoặc thay đổi quyền sở hữu đối với tiền, tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

2. Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác là việc dùng tiền, tài sản đó vào các hoạt động kinh doanh, dịch vụ, thành lập công ty, xây dựng trường học, bệnh viện, mua tài sản dưới các hình thức khác nhau hoặc sử dụng dưới danh nghĩa tài trợ, từ thiện, viện trợ nhân đạo.

Ngoài hậu quả là thiệt hại về tài sản thì tội rửa tiền có thể còn có hậu quả khác ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đến an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia và các hậu quả phi vật chất khác. Theo đó, phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự.