Khi công an hỏi B khai là do cá độ đá banh, Còn A  đã sử dụng ma túy đá, A và B là lần đầu phạm tội, và B là có ông ngoại là thương binh liệt sĩ. Vậy xin hỏi luật sư với trường hợp này A và B phải chịu mức án là bao nhiêu năm ? Điện thoại có giá là 4 600 000

Người gửi: Thao

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về Tội cướp giật tài sản như sau:

"Điều 136. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười  năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu  thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương  tật từ 11% đến 30%;

g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

h) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm  chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng."

Hành vi khách quan của  tội cướp giật tài sản là lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, người phạm tội nhanh chóng tiếp cận chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt và lẩn tránh. Trường hợp của bạn, A vào cửa hàng điện thoại vờ hỏi mua điện thoại và lợi dụng sơ hở của chủ cửa hàng nên đã giật 1 chiếc điện thoại trị giá 4.600.000 đồng, sau đó bỏ trốn. Hành vi này  đủ dấu hiệu cấu thành Tội cướp giật tài sản theo quy định trên, A và B có thể bị khởi tố hình sự theo điểm a Khoản 2 Điều 136 "phạm tội có tổ chức" khung hình phạt . là phạt tù từ ba năm đến mười năm.  Ngoài ra, khi quyết định mức hình phạt, Tòa án sẽ xem xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự   (Điều 48 BLHS) và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 46 BLHS).

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê