Vì tội cho em, nên chồng tôi cho tôi đi với họ để tạo uy tín cho người ta dễ cho nó vay. Nhưng đến nơi người ta cho vay, em chồng tôi bảo không biết viết không biết ký, nên nhờ tôi ký thay, vì thương em chồng nên tôi đã ký thay dùm cho bọn họ. Và chính tay họ lấy tiền trực tiếp từ chủ nợ, để đi trả nợ của họ cho Ngân hàng. Khi họ đã trả được tiền cho ngân hàng và vay lại khoản mới, thì họ lại không chịu trả cho người ta (chủ nợ) mà bắt vợ chồng tôi là chị dâu và anh ruột trả thay ?! Tôi định kiện lên tòa vào thời điểm đó, vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nhưng chồng tôi can, vì dù gì cũng là anh em ruột thịt hãy đợi họ ăn nên làm ra, lúc đó bắt họ trả cũng chưa muộn! Nhưng đến thời điểm này đã 22 năm và giờ đây họ cũng đã ăn nên làm ra, một tháng thu nhập: 240.000.000đ nhờ sản xuất nước đóng chai. Vợ chồng tôi bảo họ đã đến lúc trả lại những gì chúng tôi đã nai lưng ra trả giúp cho họ trong suốt 22 năm qua, nhưng họ lại lật lọng tráo trở không chịu trả. Lúc này chồng tôi cho phép tôi kiện. Vậy tôi xin hỏi Luật sư tôi có kiện được không? Và các bước khởi kiện như thế nào? (có giấy nó xác nhận chúng tôi có vay dùm và ký thay dùm cho họ). Tôi viết thư này, rất mong Luật sư tư vấn dùm cho chúng tôi, đem lại sự công bằng cho vợ chồng tôi. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty luật Minh Khuê.

Xử lý như thế nào khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Xin chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời bạn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Nội dung trả lời:

Bộ luật tố tụng dân sự có quy định về thời hiệu như sau:

Điều 159. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu:
1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định như sau:
a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;
b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.

Như vậy, theo quy định thì bạn đã mất quyền khởi kiện. Tuy nhiên quyền khởi kiện là quyền cơ bản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự và Toà án luôn có trách nhiệm phải thụ lý đơn khởi kiện và không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện hết để từ chối thụ lý đơn khởi kiện khi có yêu cầu. Cụ thể, luật quy định Tòa án không được trả lại đơn vì lý do thời hiệu đã hết, mà khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, nếu thấy thời hiệu khởi kiện đã hết thì tùy theo từng trường hợp mà Tòa án giải quyết theo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm. Trường hợp này, xem xét tình hình thực tế, Tòa có thể đưa ra xét xử hoặc đình chỉ vụ án.

Việc khởi kiện dân sự hay hình sự còn tuỳ thuộc vào tính chất hành vi của em bạn. Dựa vào điều tra cụ thể, Toà án sẽ khởi tố vụ án hình sự hoặc dân sự. Bộ luật hình sự quy định về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Để tiến hành khởi kiện, bạn gửi đơn khởi kiện kèm theo các chứng cứ, giấy tờ liên quan đến Toà án cấp huyện nơi em bạn đang cư trú để được giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.           

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.