Trong lúc lời qua tiếng lại thì ông B nhặt lấy cây củi trước nhà bà N xông vào đánh C. Thấy vậy D cũng nhặt lấy câu củi chạy theo ông B. Liền lúc đó bà N nhặt cây củi khác đánh vào đầu làm D té ngã xuống đất. Ông B quay lại đánh nhau với bà N thì bị bà Ng đánh gãy tay phải, thì được mọi người xung quanh ngăn cả. Hậu quả ông B bị thương với tỷ lệ15% còn D thì bị trấn thương sọ não với tỷ lệ là 31%. Vậy luật sư cho cháu hỏi trong trường hợp này thì bà Ngay có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Và vụ án sẽ được giải quyết như thế nào ?

Cháu mong nhận được câu trả lời sớm từ luật sư. Cháu trân thành cảm ơn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc về cho chúng tôi, với vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật hình sự 1999 

Luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật hình sự mới nhất năm 2015 

2. Nội dung tư vấn

Theo như thông tin bạn cung cấp thì vụ việc trên có dấu hiệu của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 104 BLHS.

Điều 104 BLHS quy định như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a. Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b. Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c. Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d. Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ. Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e. Có tổ chức;

g. Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h. Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i. Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k. Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Theo đó, bà N gây thương tích cho D với tỷ lệ thương tật là 31% rất có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 của Điều này nếu có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Về việc xác định hung khí nguy hiểm bạn có thể tham khảo tại tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP.

Tuy nhiên, theo phân tích các tình tiết của vụ việc trên, thì bà N cũng có thể sẽ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 105 BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động.

Điều 105 quy định như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu  tháng đến  hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác".

Sở dĩ nói như vậy là vì:

Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra là trường hợp trước khi có hành vi phạm tội, người phạm tội không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức do hành vi trái pháp luật của người người bị hại hoặc khác gây ra.

Để xác định trường hợp người phạm tội bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra phải căn cứ vào các yếu tố sau:

- Trạng thái tinh thần của người phạm tội phải ở trạng thái bị kích động: Người bị kích động về tinh thần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó họ mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình; trạng thái này chỉ xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ trở lại bình thường như trước; trạng thái tinh thần bị kích động ở những mức độ khác nhau. Đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS.

- Phải có hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác: Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra (khoản 1 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự).

- Hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác phải là nguyên nhân làm cho người phạm tội  bị kích động mạnh về tinh thần: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với tinh thần bị kích động là mối quan hệ tất yếu nội tại có cái này thì ắt có cái kia. Không có hành vi trái pháp luật của người khác thì không có tinh thần bị kích động của người phạm tội.

- Hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác phải là hành vi đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích hoặc hoặc đối với người khác có quan hệ thân thiết với người phạm tội.

Xét trong trường hợp này, hành vi đánh D của bà N là do ông B và D đã kéo sang nhà bà N tranh cãi, không những thế ông B còn ra tay đánh C là con trai của bà N. Việc nhìn thấy người khác đánh con của mình thì không ai có thể đứng yên được, do đó, vì quá kích động nên bà N đã ra tay đánh D bị thương, khi đanh D có thể bà N không lường trước được hành vi đó của mình lại gây hậu quả nghiêm trọng đến vậy.

Do vậy, bà N có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 15 về thội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Tuy nhiên, nếu ông B và bà D có thể thương lượng thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì bà N có thể không bị khởi tố, vì đây là một trường hợp đặc biệt, nếu ông B có yêu cầu khởi tố bà N thì bà N mới bị khởi tố theo quy định tại Điều 105 BLTTHS.

Để hiểu rõ hơn quy định tại Điều 105 bạn có thể tham khảo bài viết dưới đây của chúng tôi: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê