1. Khởi kiện chồng vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ, 1 chồng ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Chồng tôi hiện đang qua lại với một người và có con chung được vài tháng. Tôi muốn khởi kiện thì họ (chồng tôi và cô gái đó) sẽ bị xử lý như thế nào ? Trong khi chồng tôi hiện đang làm việc trong quân đội. Và tôi đang mang thai được 4 tháng việc khởi kiện và ly hôn tôi và con có được quyền lợi gì không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: T.M

 Khởi kiện chồng vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ, 1 chồng ?

Luật sư tư vấn xử lý hành vi vi phạm luật hôn nhâm gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình:

"2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi."

Như vậy, trong khi vẫn là vợ chồng mà chồng bạn lại có hành vi chung sống với người phụ nữ khác và có con chung với người phụ nữ đó, nên chồng bạn đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật.

Trong quan hệ hôn nhân gia đình, vấn đề ngoại tình bị pháp luật ngăn cấm nhưng không có quy định nào về việc một bên có quyền khởi kiện ra Tòa án và đòi bên kia bồi thường thiệt hại về tinh thần do hành vi ngoại tình gây ra. Vì vậy, trong tình huống trên bạn không thể khởi kiện chồng bạn vì có hành vi quan hệ bất chính.

Tuy nhiên, vì chồng bạn đã có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng nên sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng việc ly hôn để vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để trốn tránh nghĩa vụ tài sản."

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắcbệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, chồng của bạn không được quyền yêu cầu ly hôn khi bạn đang mang thai. Tuy nhiên, theo quy định của điều luật trên, người vợ vẫn có quyền xin ly hôn trong khi đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (kể cả trường hợp hai người thuận tình ly hôn). Như vậy, nếu không thể tiếp tục chung sống với nhau, thì bạn có quyền nộp đơn xin ly hôn và Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết.

Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Như vậy, việc phân chia tài sản sẽ dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và được tính đến yếu tố của mỗi bên trong vi phạm quyền và nghĩa vụ vợ, chồng.

Nếu vợ chồng bạn đã có con thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng con sẽ được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Trân trọng ./.

2. Đã ly hôn có thể khởi kiện về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân không ?

Chào công ty Luật Minh Khuê, Hiện Tôi có 01 thắc mắc, mong nhờ Luật sư tư vấn giúp: Bà A có thai với người khác trong thời kỳ hôn nhân ông B. Vì lý do đó, nên ông B và bà A đã tiến hành thủ tục ly hôn theo quy định pháp luật (quyết định ly hôn vào tháng 11/2009) .
Vậy đến thời điểm hiện nay (2015), ông B có quyền khởi kiện bà A về tội vi phạm chế độ hôn nhân gia đình gây hậu quả nghiêm trọng hay không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

- Hiện nay ông B và bà A đã ly hôn theo thủ tục chung và có quyết định vào 11/2009, theo pháp luật thì ông bà không còn là vợ chồng hợp pháp và đã chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Đến thời điểm hiện nay việc ông B khỏi kiện bà A vi phạm về chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng là không có căn cứ, vì hiện tại ông bà A không còn là vợ chồng hợp pháp.

- Về việc xử phạt vi phạm hành chính quy định pháp luật như sau:

1. Xử phạt hành vi vi phạm luật hôn nhân

Điều 48 Nghị định110/2013/NĐ-CP : Bổ trợ tư pháp hành vi vi phạm quy định luật hôn nhân quy định Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng việc ly hôn để vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để trốn tránh nghĩa vụ tài sản."

-> Căn cứ luật xử lý vi phạt hành chính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, do đó ông B không yêu cầu xử phạt với bà A được vì đã hết thời hiệu.

"Điều 6. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau:

Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế...."

Mặt khác, chưa đủ căn cứ để kết tội bà A vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng, nếu chỉ vì việc bà A mang thai với người khác thì chưa đủ để xác định là gây hậu quả nghiêm trọng. Cụ thể,

Điều 147 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định:

"Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm."

-> Bà A chưa đủ căn cứ cấu thành tội danh trên.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Chồng ngoại tình có được ly hôn với người vợ ?

3. Tư vấn hành vi vi phạm chế độ hôn nhân và việc ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em tôi hiện nay đã gửi đơn ra tòa xin ly hôn nhưng đang trong thời gian cho tòa án xử, bản thân em tôi lại làm nhà, sinh sống như vợ chồng và có con riêng với người đàn ông khác. Vậy em tôi có thể sẽ bị xử lý như thế nào ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.T.T

Tư vấn về việc em gái ly hôn khi đã vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng ?

Trả lời:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì chỉ có hai trường hợp được coi là chấm dứt quan hệ vợ chồng là: Ly hôn và vợ (chồng) chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.

Như vậy, trong trường hợp của em bạn, Tòa án vẫn chưa ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật về việc chấm dứt quan hệ vợ chồng. Do đó, trên phương diện pháp luật, hai em bạn vẫn là vợ chồng.

Khoản 2 Điều 5 quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình:

"2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi."

Do đó, trong trường hợp vợ chồng em bạn chưa ly hôn nhưng em bạn đã có hành vi chung sống với người đàn ông khác và có con với người đàn ông đó, nên em bạn đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật.

Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn như sau:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng việc ly hôn để vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để trốn tránh nghĩa vụ tài sản."

Như vậy, vì em bạn đã có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng nên sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Bên cạnh đó, nếu sau khi bị xử phạt vi phạm hành chính mà em bạn vẫn tiếp tục có hành vi chung sống như vợ chồng với người khác mà chưa ly hôn với chồng thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

"Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng ./.

4. Xử lý hành vi vu khống người khác xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Gia đình tôi đang sống hạnh phúc, Có người gọi điện đến nhằm phá hoại gia đình tôi. Vu khống tôi có quan hệ ngoài luồng hôn nhân với Ông Đ. Tôi phải làm gì để xử lý hành vi này của Người kia.

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: Nguyễn Kiều

Tư vấn xử lý hành vi vu không người khác ngoại tình ?

Tư vấn xử lý hành vi vu không người khác ngoại tình - Ảnh minh họa

Trả lời:

Trước hết, bạn nên thực hiện những biện pháp ban đầu để ngăn chặn và chấm dứt hành vi của người này. Nếu việc giải quyết cá nhân không hiệu quả mà hành vi vu khống bạn vẫn còn tiếp diễn thì bạn có thể đề nghị cơ quan công an xử lý theo tội phạm đã được quy định như sau:

Hành vi của người gọi điện vu khống bạn có thể cấu thành tội vu khống được quy định tại Điều 122 Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 :

"1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Tuy nhiên, để xử lý hành vi của người phạm tội thì cần có việc điều tra, xác minh làm rõ hành vi vu khống của cơ quan điều tra có thẩm quyền. Do đó, bạn cần gửi đơn tố giác kèm theo những tài liệu phản ánh việc loan truyền tin đồn hoặc họ tên, địa chỉ của những người biết sự việc đến Cơ quan công an nơi bạn cư trú hoặc làm việc để họ điều tra làm rõ sự việc và xử lý theo thẩm quyền.

Bạn nên lưu ý: Việc bạn tự tìm hiểu và xác định ai là người đã vũ khống mình chưa có giá trị về mặt pháp lý . Khi có đơn tố giác người đó hoặc nói với người khác là người đó vu khống mình mà cơ quan chức năng xác định nội dung tố giác của bạn là sai sự thật, cố tình bịa đặt thì bạn cũng có thể bị xử lý về hành vi vu khống người khác.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./.

5. Chồng vi phạm chế độ một vợ một chồng ?

Chào Luật sư! Tôi có câu hỏi mong luật sư giúp tôi trả lời : Vợ chồng tôi lấy nhau từ năm 2005, chúng tôi có 1 con chung năm nay 9 tuổi. Năm 2011 chồng tôi do chơi cờ bạc mà không chịu làm ăn, thậm chí bán xe máy riêng của tôi nên tôi đã ra ở riêng cùng con gái từ đó đến nay (chồng tôi không trợ cấp tiền nuôi con).

Hiện tại, chồng tôi đang chung sống với người phụ nữ khác và cô ta đã đang mang bầu 3 tháng. Tôi muốn hỏi luật sư liệu bây giờ tôi muốn kiện chồng tôi vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng có được không? Và tôi có thể yêu cầu chồng tôi đền bù chịu trách nhiệm về tài chính trong thời gian qua không chu cấp cho con tôi không? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: N.T.Y

 Chồng vi phạm chế độ một vợ một chồng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê! câu hỏi của bạn chúng tôi xin phép được tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội :

2. Cấm các hành vi sau đây:

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Theo đó, bạn có có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân của chồng bạn. Theo Điều 27 BLTTDS thì các yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án. Chồng bạn đã chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác là vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng.

Theo Điều 110 LHNGĐ năm 2014 quy định:

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Theo những dữ kiện bạn đưa ra thì vợ chồng bạn vẫn chưa ly hôn tức về danh nghĩa chồng bạn với con vẫn sống chung. Tuy sống chung nhưng chồng bạn lại vi phạm nghĩa vụ về cấp dưỡng đối với con gái bạn chính vì vậy bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu tài chính cho mình để nuôi con.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê