Tuy nhiên, trong một số trường hợp quy định về việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng còn có thể bị lợi dụng để nhằm trốn tránh nghĩa vụ riêng: Ví dụ: Trước khi kết hôn với chị H anh M được bố mẹ cho căn nhà để làm tài sản riêng, khi kết hôn với chị H anh M lái xe taxi để nuôi sống gia đình. Do cờ bạc nên anh M có vay nợ của ông C. Nên anh M đã quyết định không đi làm nữa và cho người khác thuê căn nhà ở tầng một làm cửa hàng và hai vợ chồng sống trên tầng hai; Gia đình anh M và chị H sống nhờ vào số tiền cho thuê nhà đó. Việc làm của anh M nhằm đưa ngôi nhà trở thành tài sản sử dụng chung và có lợi tức là nguồn sống duy nhất của gia đình nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ông C vì khi muốn bán căn nhà thì cần phải có sự đồng ý của chị H nữa. Trong trường hợp này mình phải giải quyết thế nào cho hợp lý ? Và theo Luật sư có kiến nghi gì về vấn đề này không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty Luật Minh Khuê

Áp dụng quy định của luật hôn nhân như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân gia đình 2014

Bộ luật dân sự 2005

2. Nội dung phân tích:

Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng.......

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

Việc biến tài sản riêng thành nguồn sống duy nhất của gia đình không có nghĩa rằng anh H có thể trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Điều đó chỉ có nghĩa rằng việc định đoạt tài sản đó như bán, tặng cho, cho thuê... cần phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Trong trường hợp này ông C có thể khởi kiện vụ án dân sự đòi thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2005

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi:  1900.6162 . Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.           

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê