Giờ tôi công khai sự việc với gia đình anh ta và đuổi anh ta đi khỏi nhà thì anh ta không nhận con, không chịu trách nhiệm với các con. Tôi có tìm hiểu qua luật và được biết là anh ta đã vi phạm luật hôn nhân gia đình, và phải cấp dưỡng cho các con tôi theo đúng trách nhiệm của người cha. Tôi xin hỏi luật sư 2 việc:

1. Vậy tôi cần những thủ tục gì, mẫu đơn kiện đòi cấp dưỡng như thế nào để đòi quyền lợi cho con tôi?

2. Nếu tôi muốn kiện anh ta vi phạm luật hôn nhân gia đình có được không hay chỉ có vợ anh ta mới có quyền kiện anh ta? Vì trước tôi anh ta đã lừa một chị khác có con với anh ta 5 tuổi rồi và sau 4 năm anh ta lại lừa tôi có con với anh ta và đều chối bỏ trách nhiệm. Như vậy hậu quả rất nghiêm trọng rồi, vậy tôi có quyền kiện không hay chỉ có vợ anh ta mới làm được việc này?
Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: P.T.H

Câu hỏi được biên tập tư chuyên mục tư vấn luật hôn nhân và gia đình của công ty luật Minh Khuê.

Bị lừa tình thì người con có được cấp dưỡng theo pháp luật hiện hành không ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng!

 

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Bộ luật Hình sự 1999

Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2009

Nghị định 110/2013/ NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Nội dung trả lời:

Theo như bạn trình bày thì bạn đang sống chung như vợ chồng với người đã có vợ và bạn đã có 2 con chung với người đó. Và bây giờ, bạn muốn kiện đòi cấp dưỡng cho con.

1. Thủ tục khởi kiện về cấp dưỡng

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng:

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Như vậy, trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 mà không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thì theo yêu cầu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Toà án ra quyết định buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó. Thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì thời điểm đó được tính từ ngày ghi trong bản án, quyết định của Toà án.

Hồ sơ khởi kiện như sau:

- Đơn khởi kiện (theo mẫu);

- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp, trong trường hợp của bạn là để chứng minh con của bạn ở độ tuổi chưa thành niên và có quan hệ huyết thống với người có nghĩa vụ cấp dưỡng (ví dụ: Giấy khai sinh của con);

- Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu (bản sao có chứng thực)

- Các giấy tờ liên quan khác (bản sao có chứng thực) (nếu có)

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (ghi rõ số lượng bản chính, bản sao).

Hồ sơ khởi kiện được gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người có nghĩa vụ cấp dưỡng cư trú, làm việc.

Bạn có thể tham khảo mẫu đơn khởi kiện Tại đây.

2. Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

Pháp luật hiện hành quy định, mọi công dân khi phát hiện vi phạm đều có quyền thông báo sự việc với cơ quan có thẩm quyền. Do đó, trong trường hợp này, vì bạn cũng là người có quyền và lợi ích bị xâm phạm nên bạn hoàn toàn có quyền báo sự việc hoặc làm đơn tố cáo cho cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng của người mà bạn đang chung sống.

Theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/ NĐ-CP thì:

“Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.”

Theo đó  hành vi vi phạm chế độ hôn hân một vợ một chồng của người mà đang chung sống có thể bị phạt hành chính với mức từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Hoặc người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu :

“Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Qua thực tiễn xét xử, có thể coi là hậu quả nghiêm trọng do hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây ra trong những trường hợp sau:

- Gây chết người (kể cả chết người do hành vi giết người);

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác có tỷ lệ thương tật từ 21% trở lên;

- Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên;

- Gây dư luận xấu về các mặt văn hoá, xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự quản lý xã hội, quản lý Nhà nước.

Như vậy, để xác định người mà bạn đang chung sống sẽ bị xử phạt hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải căn cứ vào trường hợp cụ thể của người đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến: 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÔN NHÂN.