Điều khó khăn nhất là tài sản do người chồng đứng tên và nắm giữ các giấy tờ, em tôi đã ra khỏi nhà do chồng đánh và đuổi đi. Vậy khi chia tài sản người chồng không giao (tiền tiết kiệm) và không mở cửa nhà để định giá tài sản thì có biện pháp chế tài gì để em gái tôi nhận được phần tài sản mình được chia. Mong Luật sư tư vấn giúp.

Trân trọng cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân của công ty luật Minh Khuê.

Biện pháp chia tài sản sau ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Chúng tôi xin được giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Luật Hôn nhân gia đình 2014

- Bộ luật tố tụng dân sự 2004

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự 2011

Nội dung tư vấn:

Em gái bạn xin đơn phương ly hôn nên sẽ áp dụng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, trong trường hợp của em gái bạn thì Toà án sẽ giải quyết cho ly hôn khi có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Để được toà án giải quyết vấn đề chia tài sản thì em bạn cần phải đưa ra các giấy tờ để chứng minh tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng. Vì theo khoản 1 và 4 Điều 79 Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định: 

"Điều 79. Nghĩa vụ chứng minh

1. Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

...

4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó."

Tuy nhiên, theo như bạn nói thì em bạn khó có thể thu thập chứng cứ do các giấy tờ về tài sản thì do người chồng đứng tên và nắm giữ và người chồng không chịu giao các chứng cứ đó ra. Trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn yêu cầu toà án thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 94 BLTTDS:

“Điều 94. Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ

1. Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn.

Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu trữ chứng cứ cần thu thập đó.

2. Tòa án, Viện kiểm sát có thể trực tiếp hoặc bằng văn bản yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.”

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân và gia đình.