Chị b đề nghị anh a đưa 10 triệu tiền cho thuê nhà hàng tháng để tiết kiệm làm tài sản chung của hai vợ chồng nhưng anh a không đồng ý vì cho rằng đây là tài sản riêng của anh. Họ chỉ thống nhất được với nhau là thu nhập lương của 02 vợ chồng đều đưa chị b quản lý, chi tiêu, mua sắm trong gia đình. Mỗi ngày chị b đưa anh a 30. 000 đồng ăn sáng, cà phê, xăng xe đi lại.

Một hôm, anh a mua vé số và may mắn trúng giải đặc biệt 1. 5 tỷ đồng. Anh a nói số tiền 1. 5 tỷ này là tài sản riêng của anh vì anh mua vé số từ tiền mà chị b đã chia cho anh mỗi ngày và lập luận rằng hôm đó anh đã không ăn sáng, cà phê mới có tiền mua vé số. Tuy nhiên chị b lại nói rằng số tiền 1. 5 tỷ là tài sản chung của 02 vợ chồng.

Căn cứ luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì theo bạn:1. Mười triệu đồng tiền thuê nhà hàng tháng có phải là tài sản riêng của anh a không. Vì sao. Nêu căn cứ pháp lý. 2. Tiền trúng vé số (1. 5 tỷ đồng) có phải là tài sản chung của 02 vợ chồng anh a chị b không ?  Vì sao ? Nêu căn cứ pháp lý.

Cảm ơn và mong nhận được sự tư vấn!

 

Trả lời:

1. Căn cứ pháp lý: 

Luật hôn nhân và gia đình 2014 

2. Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty luật Minh Khuê, nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

Điều 33 luật hôn nhâ và gia đình 2014 quy định 

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung. 

Căn cứ vào quy định tại điều luật này thì có thể khẳng định rằng số tiền 10 triệu thuê nhà hàng tháng và 1,5 tỷ số tiền trúng vé số là tài sản chung của hai vợ chồng. Vì số tiền 10 triệu là phần thu nhập hợp pháp phát sinh từ ngôi nhà của anh A trong thời kỳ hôn nhân.( Ngôi nhà là tái sản riêng của anh A nhưng phần thu nhập hợp pháp phát sinh trong thời kỳ hôn nhân từ tài sản này được coi là tài sản chung )(khoản 1 điều 33 ). Về số tiền chúng vé số thì cũng được lấy từ phần tiền đóng góp của hai vợ chồng (đã được hai vợ chồng đồng ý) mà đã được coi là tài sản chung mặt khác không có căn cứ chứng minh số tiền 1,5 tỷ là tài sản riêng của anh B (khoản 3 điều 33) . Cho nên số tiền trên được coi là tài sản chung.

Tài sản chỉ coi là tài sản riêng nếu tài sản ấy có trước hôn nhân hoặc được vợ chồng thỏa thuận công nhận là tài sản riêng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162  để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê