Bao nhiêu năm bỏ đi, bố tôi không chu cấp tiền cho chị em tôi đi học mà chúng tôi phải tự bươn trải để có tiền. Rồi họ trở về làng sống tiếp tục như vợ chồng mà chính quyền không can thiệp. Không dừng lại ở đó, cô vợ nhỏ không hôn thú còn xúi ông trở về chia đất chia tài sản. Thực tế là ông đã chiếm toàn bộ diện tích đất nông nghiệp đã được dồn điển đổi thửa mà tôi đã xây dựng trang trại để nuôi lợn và trồng cây ăn trái để ông và cô kia tiếp tục công việc tôi đang làm. Tiếp đó ông còn mua vật liệu xây dựng ngăn lối đi chia đôi nhà ở đất thổ cư mà mẹ tôi và vợ chồng tôi cùng 2 con tôi đang ở. Xin hỏi tôi phải làm gì để bảo vệ mẹ và gia đình tôi. Mẹ tôi đã quá vất vả nuôi chị em tôi và coi như không có chồng để khỏi đau lòng, nhưng ông ấy và cô vợ nhỏ đã gây hấn với mẹ tôi để ảnh hưởng đến tâm lý. Vậy ông ấy có những quyền gì về đất đai? Việc sống chung của họ có bắt buộc phải có đơn kiện thì mới bị xử lý hay không cần có đơn mà chính quyền phải tự xử? Rất mong nhận được tư vấn của Qúy công ty. Trân trọng cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân gia đình của công ty Luật Minh Khuê.

Bố tôi có những quyền gì về đất đai và sống chung với vợ khác có bị kiện không?

Luật sư tư vấn trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội

Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội

Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC

Nội dung tư vấn:

1. Việc ngoại tình của bố bạn

Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"2. Cấm các hành vi sau đây:

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;"
Trong trường hợp này, do bố bạn đã công khai chung sống và có con với người khác mà chính quyền biết nhưng không can thiệp thì mẹ bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý. Nếu mẹ bạn có đầy đủ bằng chứng chứng minh việc ngoại tình, sống chung với người khác và có con chung của bố bạn thì hình thức xử phạt sẽ được áp dụng tùy theo mức độ vi phạm đối với từng trường hợp cụ thể:

- Về trách nhiệm hành chính: Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;…”

- Về trách nhiệm hình sự:

Theo quy định tại Mục 3 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT- BTP – BCA – TANDTC – VKSNDTC:
“Chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng trong các trường hợp sau đây:
a, Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng.
Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v..v…
b, Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.”
Điều 147 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

"1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".

2. Bố bạn có những quyền gì về đất đai?

Do bạn không cung cấp thông tin cụ thể cụ nội bạn mất khi nào nên có thể chia làm 2 trường hợp:

  • Trường hợp thời hiệu khởi kiện về thừa kế vẫn còn:

Theo điều 645 Bộ luật dân sự 2005 thì thời hiệu khởi kiện để phân chia di sản thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm cụ nội bạn mất là thời điểm mở thừa kế:

"Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Điều 676 Bộ luật dân sự quy định cụ thể các hàng thừa kế bao gồm:

"a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại."

Như vậy:

- Nếu ông hoặc bà nội bạn là con của cụ nội còn sống thì ông hoặc bà nội bạn sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế, khi đó bố bạn chỉ có quyền đối với mảnh đất khi ông bà nội bạn từ chối quyền thừa kế hoặc tặng cho di sản thừa kế cho bố bạn.

- Nếu ông hoặc bà nội bạn đều mất thì bố bạn nếu không có anh chị em ruột thì được thừa kế toàn bộ mảnh đất này.

  • Trường hợp thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết​:

Theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định như sau:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy khi thời hiệu khởi kiện đã hết thì di sản thừa kế sẽ được chia theo tài sản chung của các đồng thừa kế và nếu bố bạn được hưởng một phần tài sản trong đó do được tặng cho hoặc do là người thừa kế thì đó là tài sản của bố bạn.

Khi bố bạn đã được thừa kế một phần hoặc toàn bộ mảnh đất thì theo điều 33 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo quy định tại khoản 1 điều 33 Luật HN&GĐ nêu trên thì thì mặc dù mảnh đất do bố bạn được thừa kế riêng nhưng mẹ bạn cũng có công sức đóng góp xây dựng căn nhà và hoa màu trên mảnh đất đó, hơn nữa bố bạn lại bỏ nhà đi và một thời gian sau mới quay về nên tài sản xây dựng trên mảnh đất được thừa kế và hoa màu sẽ được coi như tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Nếu bố mẹ bạn ly hôn thì mẹ bạn sẽ được chia tài sản đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hôn nhân gia đình.