Thời gian chung sống, vợ chồng tôi luôn bất hòa và tôi dọn ra ngoài ở thuê. Khi ba mẹ chồng tôi mất, tôi vẫn về làm trọn phận dâu. Khi tôi dọn đi, con trai tôi mới có 6 tuổi. Vì còn đang đi học, chưa công việc ổn định, tôi không đủ điều kiện chăm con nên để con cho chồng tôi chăm nuôi. Giờ tôi đã đi làm, có thu nhập nhưng cũng đủ chi tiêu cho mỗi bản thân tôi thôi. Ba mẹ chồng thì đã mất, anh em trong gia đình chồng tôi tính bán nhà chia nhau. Tôi chưa ly hôn. Sau hơn 3 năm ly thân, lúc đầu chồng tôi chăm con tương đối tốt. Nhưng thời gian gần tết 2016, tôi thấy con sa sút từ thể chất đến tâm trạng. Tìm hiểu thì em chồng tôi cho hay, chồng tôi đang tìm hiểu cô gái khác và xao lãng chuyện chăm con. Tôi đưa con về chăm nhưng kinh tế thì không đủ. Nếu chưa ly hôn, khi bán nhà nội, con trai tôi theo luật thì có được chia tài sản từ phần của chồng tôi không? Và đã ly hôn thì cũng có được chia hay không? Anh mang kinh tế lo cho mẹ con người phụ nữ mới mà không lo cho con trai của anh và tôi. Tôi lo con trai tôi bị mất quyền lợi nên nhờ tư vấn. Em chồng tôi bắt tôi phải quay về ở nhà chồng, ở ngay căn phòng ban đầu khi bố mẹ chồng cưới tôi về. Vì tôi là dâu được cưới hỏi có giấy kết hôn và chưa ly hôn. Ở đây, tôi chỉ muốn hỏi quyền lợi của con trai tôi thôi, chứ không liên quan gì tôi cả.

Tôi chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân công ty luật minh khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến gọi: 1900 6171 

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp luật:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, đối với việc ly hôn của bạn và chồng thì tài sản sẽ được giải quyết như thế nào?

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy, về nguyên tắc, tài sản chung của bạn và chồng bạn sẽ được chia đôi tuy nhiên vẫn phải xem xét các yếu tố:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Thứ hai, đối với quyền lợi của con bạn thì sẽ chồng bạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng:

Theo Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này."

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyển của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Như vậy, nếu sau khi ly hôn chồng bạn không trực tiếp nuôi con thì sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con bạn

Vê mức cấp dưỡng thì được xác định như sau:

Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết"

Do đó, vì con bạn chưa thành niên nên về mức cấp dưỡng bạn và chồng bạn sẽ thỏa thuận với nhau căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của chồng bạn và nhu cầu thiết yếu của con bạn; nếu không thỏa thuận được thì hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ ba, con trai bạn có được chia tài sản của nhà nội từ phần của chồng bạn khi bạn ly hôn không?

Đối với trường hợp của bạn,trước khi bố mẹ chồng bạn mất đã phân chia cho mỗi người một phòng, thì khi bố mẹ chồng bạn mất phòng của ai vẫn thuộc sự sở hữu của người đó,còn đối với những phần bố mẹ chồng bạn chưa phân chia thì được định đoạt như sau:

- Nếu bố mẹ chồng bạn để lại di chúc mà có phân chia những tài sản còn lại mà có phần của con bạn thì con bạn được hưởng phần di sản này. Nếu trong di chúc không định đoạt phần của con bạn thì con bạn sẽ không được hưởng

- Nếu bố mẹ chồng bạn không để lại di chúc thì di chúc được chia theo pháp luật

Theo quy định về hàng thừa kế trong Điều 676 BLDS năm 2005

"Điều 676.Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, chồng của bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất, nên chồng của bạn sẽ được hưởng trong số tài sản mà bố mẹ chồng bạn được hưởng.Vì con của bạn thuộc hàng thừa kế thứ hai nên tại thời điểm này con của bạn sẽ không được hưởng trong số tài sản đó; nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì con của bạn mới được hưởng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH.