Về tài sản: Sau khi kết hôn, e có xây 1 quán karaoke trị giá 1 tỷ (phần tài sản trên đất), còn đất xây là đất của hộ gia đình ba mẹ em, vẫn đứng tên hộ gia đinh em. Riêng karaoke xây ra là để kinh doanh phụ vụ đời sống gia đình 2 vợ chồng và đứng tên em.

- Phần karaoke 1 tỷ gồm: 200 triệu mượn từ gia đình vợ, 100 triệu tiền túi của riêng em, 100 triệu tiền của hồi môn 2 vợ chồng và 600 triệu tiền vay ngân hàng. Tiền vay ngân hàng 600 triệu này do em đứng tên 1 mình, thế chấp bằng tài sản hộ gia đình bên em (gồm 6 người: 2 ba mẹ và 4 đứa con, trong đó có em).

Dạ cho em hỏi:

1. Khi chia tài sản, phần xây dựng karaoke trên đất 1 tỷ phân chia như thế nào ạ? Vợ em đòi trả cho vợ 200 triệu mượn gia đình vợ, 50 triệu tiền hồi môn ( chia 2), rồi định giá karaoke được bao nhiêu chia đôi nữa. Nếu tính như vậy, thì em phải đưa vợ: 200+50+500 (tiền xây karaoke/2) = 750 triệu. E nghĩ 1 tỷ karaoke được hình thành từ nhiều nguồn (vốn tự có, vay ngân hàng...) thì chỉ định giá xong chia 2 thôi phải không ạ.?

2. Nghĩa vụ trả nợ ngân hàng 600 tr sẽ ra sao, vì tài sản thế chấp là của nhà em, nếu như trong tương lai bên vợ không trả được nợ, thì cũng không mất mát gì, vì tài sản nhà em bị thế chấp chứ không phải nhà vợ?

3. Đứa con mới có hơn 1 tháng. Vậy nghĩa vụ và trách nhiệm nuôi ra sao ạ, vợ e sẽ nuôi cháu, em sẽ chu cấp tiền bao nhiêu và tới bao nhiu tuổi ạ?

E đang cần tư vấn gấp ạ, mong luật sư giúp em, em chân thành cảm ơn ! 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật hôn nhâncủa Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn chia tài sản, nợ nần, con cái khi ly hôn, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014

2. Nội dung tư vấn:

a.   Khi chia tài sản và nghĩa vụ trả nợ: 

Khoản 2, 4 Điều 219 Bộ luật dân sự 2005

”2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án”

Theo đó, trong trường hợp của bạn nếu 2 vợ chồng không có thỏa thuận gì thì Tòa án sẽ căn cứ vào những quy định nói trên để giải quyết chia tài sản đặc biệt là căn cứ tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. 

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Điều 42. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;                                     

đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 64. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác

Như vậy,  vợ chồng bạn phải có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng trước khi phân chia tài sản ly hôn. Việc phân chia tài sản ly hôn mà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ sẽ bị coi là vô hiệu. Còn phần tài sản là quán karaoke trị giá 1 tỷ  thì sau khi trừ đi nghĩa vụ trả nợ và phần 200 triệu mà bạn vay gia đình vợ thì phần tài sản còn lại vợ chồng bạn có thể thảo thuận hoặc chia đôi theo quyết định của Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật.

b. Nghĩa vụ và trách nhiệm nuôi con:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 118. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;

2. Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;

3. Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;

4. Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;

5. Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;

6. Trường hợp khác theo quy định của luật.

Như vậy, do sau khi ly hôn bạn không trực tiếp nuôi con thì bạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng con bạn hiện nay cháu 1 tháng tuổi. Mức cấp dưỡng do vợ chồng bạn thỏa thuận và  căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của bạn cũng như nhu cầu thiết yếu của con bạn. Theo quy định của luật thì bạn phải cấp dưỡng con bạn khi cháu đã thành niên tức 18 tuổi.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê