Hôm mua đất có mặt vợ chồng Dì chú ruột, anh và người bán đất. Sau khi cưới vợ, anh vay mượn tiền, góp vốn cùng 3 người khác thành lập công ty cổ phần có đứng tên anh và vợ cũ. Nhưng anh không làm trực tiếp mà chỉ để mình vợ cũ và 3 người khác làm. Tiền đi vay nợ, anh vay và anh trả, giờ anh vẫn còn lưu giấy đi vay nợ do anh đứng tên. Vợ chồng anh sống với nhau được 10 năm có 1 cháu gái thì ly hôn. Sau khi ly hôn, vợ cũ anh muốn nuôi con nên anh nhường phần nuôi con cho vợ cũ. Vậy xin luật sư cho em hỏi là:

1- Số tài sản chung phát sinh do 2 anh chị để dành được trong 10 năm được chia như thế nào ?

2- Mảnh đất anh mua trước khi cưới, anh nhờ vợ chồng Dì ruột đứng tên, nhưng sau khi kết hôn anh mới đứng tên (không có tên vợ cũ) thì được chia như thế nào?

3- Số tài sản do anh đi vay thành lập công ty cổ phần do anh đứng tên sau khi ly hôn được chia như thế nào ?

4- Số tiền chu cấp cho con gái được tính như thế nào ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân  công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình gọi   1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014   

2. Nội dung phân tích: 

2.1 Số tài sản chung phát sinh do 2 anh chị để dành được trong 10 năm được chia như thế nào?

Việc phân chia tài sản sau khi ly hôn được quy định theo nguyên tắc tại các Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Như vậy, theo quy định tại Khoản 2 và 3 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì số tài sản chung phát sinh do 2 anh chị bạn để dành được trong 10 năm được chia sẽ chia đôi nhưng có tính đến các yếu tô theo quy định của pháp luật.

2.2 Mảnh đất anh mua trước khi cưới, anh nhờ vợ chồng Dì ruột đứng tên, nhưng sau khi kết hôn anh mới đứng tên (không có tên vợ cũ) thì được chia như thế nào?

Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này."

Anh trai bạn trước khi cưới vợ có mua 1 mảnh đất, nhưng do chưa có sổ hộ khẩu TPHCM nên anh nhờ vợ chồng Dì ruột đứng tên (có giấy xác nhận nhờ Dì chú đứng tên dùm bằng tay giữa anh và Dì chú nhưng không thông qua văn phòng công chứng). Sau khi cưới vợ anh chuyển tên của vợ chồng Dì thành tên anh (không có tên của vợ cũ). Và hàng xóm nơi anh ở cũng như người bán đất cũng biết mảnh đất anh mua trước khi cưới là hoàn toàn bằng tiền của anh và anh nhờ Dì chú đứng tên dùm trong thời gian chưa có hộ khẩu TPHCM. Hôm mua đất có mặt vợ chồng Dì chú ruột, anh và người bán đất. Như vậy mảnh đất chỉ là tài sản riêng của anh bạn khi anh bạn có căn cứ  rõ ràng là do mình sở hữu trước hôn nhân. 

2.3 Số tài sản do anh đi vay thành lập công ty cổ phần do anh đứng tên sau khi ly hôn được chia như thế nào?

Sau khi cưới vợ, anh vay mượn tiền, hùn vốn cùng 3 người khác thành lập công ty cổ phần có đứng tên anh và vợ cũ. Nhưng anh không làm trực tiếp mà chỉ để mình vợ cũ và 3 người khác làm. Tiền đi vay nợ, anh vay và anh trả, giờ anh vẫn còn lưu giấy đi vay nợ do anh đứng tên. Điều đó cho thấy khi anh bạn vay mượn tiền để thành lập công ty thì chị vợ cũng biết nên có thể coi đây là tài sản chung của hai người, theo đó số tài sản do anh đi vay thành lập công ty cổ phần do anh đứng tên sau khi ly hôn được chia theo Điều 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 64. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác."

2.4 Số tiền chu cấp cho con gái được tính như thế nào?

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Vì anh bạn nhường quyền nuôi con cho vợ bạn nên nghĩa vụ, quyền của anh bạn khi không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Điều 82 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó".

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn tại Điều 83 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con".

Như vậy, số tiền chu cấp cho con do hai vợ chồng anh chị bạn thỏa thuận với nhau dựa trên sự phát triển và nhu cầu của con. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê