1. Chồng đi nước ngoài vợ ở nhà tẩu tán tài sản giờ đơn phương xin ly hôn được không ?

Kính chào luật sư! Tôi có anh trai lấy chị dâu, trong khi anh đi nước ngoài chị ở nhà làm ăn buôn bán bị vỡ nợ tiền tỷ khi anh về muốn biết nguyên nhân dẫn đến tình cảnh này thì chị không nói gì, bỏ đi hiện nay anh chị đã sống ly thân và chị hiện giờ ở đâu thì anh không rõ. 

Nay anh muốn đơn phương ly hôn để lo cho cuộc sống và con cái nhưng chị lại bị dính đến luật pháp vậy anh có thể đơn thân ly hôn chị đc không? Hãy tư vấn giúp tôi nhé!

Xin cam ơn!

Người gửi: P.H

 

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình về ly hôn và quyền nuôi con. gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Quyền ly hôn được quy định tại Điều 51, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo đó thì: Về nguyên tắc vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên có một hạn chế đó là trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn còn người vợ vẫn có quyền xin ly hôn. Về vấn đề này, Nghị quyết số 02/2000/NĐ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hướng dẫn như sau:

"Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên, người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn khi vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Luật chỉ quy định "vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi"; do đó, khi người vợ đang thuộc một trong các trường hợp này (không phân biệt người vợ có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), mà người chồng có yêu cầu xin ly hôn, thì giải quyết như sau:

a. Trong trường hợp chưa thụ lý vụ án thì Toà án áp dụng điểm 1 Điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trả lại đơn kiện cho người nộp đơn.

b. Trong trường hợp đã thụ lý vụ án thì Toà án cần giải thích cho người nộp đơn biết là họ chưa có quyền yêu cầu xin ly hôn. Nếu người nộp đơn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu người nộp đơn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và quyết định bác yêu cầu xin ly hôn của họ."

Như vậy, có thể thấy việc phá tán tài sản của người vợ dẫn đến liên quan tới pháp luật không phải là điều kiện hạn chế việc đơn phương ly hôn của anh trai bạn, anh trai bạn vẫn được quyền đơn phương ly hôn. Tuy nhiên, trong trường hợp người vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, không phân biệt người vợ có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai, thì anh trai bạn không được quyền đơn phương ly hôn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn.

>> Xem ngay:  Thủ tục ly hôn với người nước ngoài thực hiện như thế nào ? Thời gian giải quyết ly hôn bao lâu ?

2. Tư vấn thủ tục ly hôn với người nước ngoài theo pháp luật hiện hành ?

Xin chào công ty luật sư Minh Khuê! Tôi muốn luật sư tư vấn giúp trường hợp hôn nhân của tôi. Tôi kết hôn với Việt Kiều Úc cách đây gần 4 năm. Tôi đã có thường trú và có 2 con 4 tuổi và 3 tuổi. 

Hiện tại cuộc sống hôn nhân của tôi không thể cứu vãn được nữa, chồng tôi hiện tại đã bỏ mặc 3  mẹ con tôi, tôi không thể liên lạc được. Sống nơi đất khách quê người, tôi không biết nói tiếng anh. Bây giờ tôi không biết cách nào để giải quyết ly hôn. Rồi tôi có thể đưa 2 con về Vit Nam sinh sống.Tôi không muốn ở lại Úc nữa. Luật sư có thể tư vấn giúp trường hợp của tôi không?

Tôi xin cảm ổn luật sư rất nhiều!

Người gửi: P.H

 

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình về ly hôn đơn phương, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Theo quy định tại điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau:

"Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó".

Do chị không nêu rõ chị với chồng chị đăng ký kết hôn tại Việt Nam hay tại Úc, mặt khác, chị sẽ về Việt Nam, còn chồng chị vẫn định cư bên Úc,  do đó, theo chúng tôi chị nên nộp đơn xin ly hôn tại Úc sau đó về Việt Nam xin công nhận bản án này có hiệu lực và cho thi hành tại Việt Nam.

Hiện nay, hai vợ chồng chị đang sinh sống tại Úc mà chưa về Việt Nam, do vậy chị có thể làm đơn đơn phương ly hôn và gửi lên cơ quan có thẩm quyền yêu cầu giải quyết đơn phương ly hôn cho chị và khi tiến hành yêu cầu đơn phương ly hôn tại Úc chị cần phải tìm hiểu các thủ tục của bên Úc, xem họ có những quy định về trình tự, thủ tục để giải quyết một vụ án ly hôn như thế nào. Chị có thể liên hệ với cơ quan lãnh sự của Việt Nam tại Úc để được giúp đỡ.

 Khi chị yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tại Úc giải quyết theo pháp luật của Úc thì bản án này chỉ có hiệu lực pháp luật tại lãnh thổ nước Úc mà không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam. Vì Việt Nam và Úc chưa có hiệp định tương trợ tư pháp,  nếu như chị muốn bản án đó​ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam thì sẽ thực hiện thủ tục xin công nhận bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại điều 342 Bộ luật tố tụng dân sự 2004. 

Nếu như chị kết hôn tại Úc và chưa làm thủ tục công nhận kết hôn tại Việt Nam thì chị sẽ làm thủ tục công nhận kết hôn tại Việt Nam theo quy định tại điều 38 Nghị định 126/2014/NĐ - CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình như sau:

Thủ tục công nhận việc kết hôn tại Việt Nam của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Việt Nam

"Điều 38. Hồ sơ, trình tự, thủ tục ghi vào sổ việc kết hôn

1. Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau đây:

a) Tờ khai ghi vào sổ việc kết hôn theo mẫu quy định;

b) Bản sao giấy tờ chứng nhận việc kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

c) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế;

d) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người có yêu cầu.

Trong trường hợp công nhận việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài mà trước đó công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài đã ly hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp giấy xác nhận ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã được giải quyết ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn phải do một trong hai bên kết hôn nộp trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 của Nghị định này.

3. Thời hạn giải quyết việc ghi vào sổ việc kết hôn là 05 ngày làm việc kể từ ngày Sở Tư pháp hoặc Cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí. Trong trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.

Trong trường hợp từ chối ghi vào sổ việc kết hôn thì Sở Tư pháp, Cơ quan đại diện trả lời bằng văn bản cho người có yêu cầu, trong đó nêu rõ lý do.

4. Sau khi ghi vào sổ việc kết hôn, Giám đốc Sở Tư pháp, người đứng đầu Cơ quan đại diện ký và cấp cho người yêu cầu giấy xác nhận ghi vào sổ việc hộ tịch đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo mẫu quy định".

Còn nếu như chị đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì chị không cần làm thủ tục công nhận kết hôn tại Việt Nam nữa.

Sau khi đã hoàn tất thủ tục ghi vào sổ kết hôn công nhận tại Việt Nam chị có thể gửi đơn xin công nhận quyết định, bản án của Tòa án nước ngoài về việc đã ly hôn và cho thi hành bản án đấy tại Việt Nam theo quy định tại điều 344 Bộ luật tố tụng dân sự 2004.

"Điều 344. Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

1. Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu.

2. Đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam".

Khi chị làm đơn yêu cầu  công nhận bản án của Tòa án nước ngoài có hiệu lực và cho thi hành tại Việt Nan thì chị sẽ gửi đơn lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi mà chị sẽ đăng ký thường trú khi chị về nước, Tòa án sẽ mở phiên Tòa xem xét là công nhận hay không công nhận bản án đấy có hiệu lực và cho thi hành tại Việt Nam.

Hồ sơ gồm:

- Đơn yêu cầu công nhận: Đơn phải đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 350, khoản 1 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Bản sao hợp pháp bản án, quyết định của Toà án nước ngoài;

- Văn bản xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam trừ trường hợp trong bản án, quyết định đó đã thể hiện rõ những điểm này;

- Văn bản xác nhận việc đã gửi cho người phải thi hành bản sao bản án, quyết định đó. Trường hợp người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó vắng mặt tại phiên tòa của Toà án nước ngoài thì phải có văn bản xác nhận người đó đã được triệu tập hợp lệ;

Đơn và các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.

>> Xem ngay:  Thủ tục ly hôn đơn phương khi chồng đang ở nước ngoài?

3. Ly hôn có yếu tố nước ngoài ?

Ly hôn có yếu tố nước ngoài đã và đang là một vấn đề "nóng" tại Việt Nam. Thực tiễn giải quyết án dân sự có yếu tố nước ngoài cho thấy, việc xác định thế nào là “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” rất khó. 

Tham khảo mẫu đơn xin ly hôn liên quan:

1. Mẫu đơn xin ly hôn;

2. Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

3. Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương;

4. Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.6162

Trả lời:  

Theo quy định của Luật Quốc tịch thì “‘Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài” (khoản 2 Điều 4 Luật Quốc tịch). Vậy thời hạn bao lâu thì được xác định là lâu dài? Trường hợp người Việt Nam đi công tác, học tập hoặc du lịch nhưng họ không về nước khi hết thời hạn có được coi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hay không? Vấn đề này đã được ngành Tòa án đưa ra thảo luận lấy ý kiến, hiện có nhiều quan điểm khác nhau và vẫn chưa thống nhất đường lối giải quyết nên cách hiểu và áp dụng ở các tòa chưa thống nhất. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh hay cấp huyện. Theo quy định hiện hành:

  1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình.  

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

4. Bản án, quyết định ly hôn của Toà án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

4. Giải quyết tranh chấp đất đai khi ly hôn với người nước ngoài ?

Câu hỏi:Tôi là vợ của một người nước ngoài. Hiện nay do mẫu thuẫn trong công việc cũng như cuộc sống gia đình chúng tôi đã ly hôn. 

Trước đây vợ chồng tôi đã cùng bỏ tiền đầu tư mua đất để mở công ty du lịch sinh thái biển khoảng 10.000 m2. Công ty này đang hoạt động bình thường và do tôi đứng tên và là chủ sở hữu.

Vậy sau khi ly hôn tôi muốn giữ lại tất cả diện tích đất để công ty được tiếp tục hoạt động được không?
Sau khi Tòa sử chia tài sản theo luật hôn nhân, do tôi muốn giữ đất, tôi có thể đưa phần tiền giá trị một nửa số tài sản và đất đai mà tòa đã định giá cho chồng tôi được không?
Hiện nay thì chồng tôi cũng đang muốn tranh chấp để lấy đất, vậy anh ấy có lấy đất được không? Tôi phải làm thế nào?
Xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: thanh19


Trả lời:

1. Trước hết, việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Theo đó, trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu (GCN) phải ghi tên của cả vợ chồng (khoản 1 & 2, Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình). Tuy nhiên, trường hợp tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân mà vì lý do nào đó chỉ một bên đứng tên, nếu không có tranh chấp thì tài sản đó vẫn là tài sản chung của vợ chồng (khoản 3 Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình). Nếu có tranh chấp thì người có tên trong GCN phải chứng minh tài sản đó là tài sản riêng, nếu không chứng minh được thì tài sản đó vẫn là tài sản chung.

Vì vậy, trong trường hợp của chị, dù chồng chị không đứng tên trên GCN, nhưng mảnh đất để thực hiện dự án du lịch sinh thái do công ty mà chị đứng tên vẫn được xem là tài sản chung của vợ chồng chị có trong thời kỳ hôn nhân (trừ khi chị chứng minh được đó là tài sản riêng của chị) và sẽ được chia theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

2. Việc tự thỏa thuận phân chia tài sản chung khi ly hôn là quyền của các bên, và nếu không thỏa thuận được hoặc có tranh chấp thì các bên có quyền đề nghị cơ quan Tòa án xem xét giải quyết.

Thông thường, khi có tranh chấp về tài sản chung, Tòa án sẽ xem xét các chứng cứ để giải thích, giúp cho đương sự hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ liên quan. Nếu không hòa giải thành việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc nêu tại Điều 95, Luật Hôn nhân và Gia đình như sau:

- Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

Căn cứ vào những quy định nói trên, hiện nay chị đang có lợi thế về mặt pháp lý khi GCN và dự án du lịch sinh thái đều do chị đứng tên. Tuy nhiên, chị cần lưu ý rằng, đây chỉ là lợi thế chứ không phải là yếu tố tiên quyết để cơ quan có thẩm quyền quyết định cho chị được quyền giữ lại toàn bộ tài sản nói trên.

Do đó, trong trường hợp chị muốn giữ lại khối tài sản bằng cách thanh toán cho chồng chị ½ giá trị tài sản (bằng tiền), thì chị nên nêu ý kiến đề xuất này trực tiếp với chồng chị để các bên có thể thỏa thuận, thương lượng hướng giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng nhất. Và chỉ có giải pháp hòa giải thành công mới giúp cho các bên không tốn nhiều công sức, thời gian, của cải để giải quyết vụ việc.

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn đăng ký thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất;

5. Tư vấn ly hôn với người nước ngoài, việc chia tài sản, quyền nuôi con ra sao ?

Kính thưa luật sư!Tôi là một công dân việt nam đang sinh sống tại nhật bản và có chồng và con là người nhật. Nhưng chồng tôi hiện đang làm việc tại hà nội Việt Nam. 

Cách đây 4 năm về trước chồng tôi về Việt Nam làm việc và có quen bíêt một cô gái ,từ đó tới giờ họ vẫn qua lại với nhau... nhưng mới đây tôi phát hiện ra họ đã cưới chui với nhau và đã có một bé gái được 4 tháng tuổi dù chưa ly hôn với tôi..... nhiều lần tôi đòi ly dị thì chồng tôi mang con trai ra dọa ... vậy theo luật sư thì tôi phải làm thế nào ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!. 

Người gửi: P.T.H

>>  Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của công ty chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 127 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật này.
2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam
3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Như vậy, trường hợp của bạn là công dân Việt Nam lấy chồng Nhật nhưng cuộc sống hiện tại của bạn không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được thì bạn có thể xin ly hôn. Tuy nhiên, bạn là công dân Việt Nam nhưng lại không thường trú tại Việt Nam do đó theo quy định tại khoản 2, điều 127 nói trên thì trường hợp của bạn sẽ được giải quyết theo pháp luật Nhật Bản nơi thường trú chung của hai vợ chồng bạn.

-Về việc chồng bạn khi sang làm việc tại Việt Nam lại có quan hệ với một cô gái Việt Nam khác và đã có với cô gái đó một bé gái 4 tháng tuổi.

Theo thông tin bạn cung cấp thì họ cưới chui như vậy có thể hiểu là họ chưa đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức đám cưới. Theo quy định của khoản 7, điều 3, luật hôn nhân gia đình đây là chung sống như vợ chồng. Việc người phụ nữ kia biết chồng bạn đã có vợ mà vẫn sống chung với nhau như vợ chồng là  hành vi bị pháp luật cấm theo quy định tại điều 5 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:

"Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ"

Như vậy, theo quy định của pháp luật việc chung sống như vợ chồng đã xâm phạm chế độ hôn nhân 1 vợ, 1 chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong trường hợp này, theo quy định tại điểm b, c; khoản 1, điều 48 nghị định 110/2013/NĐ-CP thì sẽ bị xử phạt về hành chính:

"Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ";

Và sẽ phải chấm dứt quan hệ chung sống bất hợp pháp này. Nếu không chấm dứt sau khi bị xử phạt hành chính thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của bộ luật hình sự 1999 như sau:

"Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Trên đây là toàn bộ phần tư vấn của chúng tôi cho thắc mắc của bạn, hi vọng sẽ giúp ích được cho bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê!

6. Thủ tục ly hôn với người nước ngoài ?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin được giải đáp: Em có người chị kết hôn với người Hàn Quốc đã được 9 năm và có 1 bé gái 6 tuổi. Hiện nay chị em chưa nhập quốc tịch nhưng phải đi làm nuôi con gái và chồng (con gái hiện đang ở Việt Nam ). 

Do hiện nay giấy đã hết hạn mà chồng không chịu gia hạn. Chị em muốn ly hôn và tiếp tục ở lại Hàn Quốc có được không. Nếu được vậy chị em cần phải làm những thủ tục gì ạ ? Xin cảm ơn.

Người gửi: D.H

>>  Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình về ly hôn vớ người nước ngoài gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của chị.Cảm ơn chị đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của chị chúng tôi giải đáp như sau:

Căn cứ vào điều 127 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau:

"Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó".

Căn cứ vào quy định này thì chị gái chị có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn và có thể nộp đơn lên Tòa án tại Hàn Quốc hoặc Tòa án tại Việt Nam để yêu cầu giải quyết việc ly hôn. 
Do hiện tại cả hai vợ chồng chị gái chị đang có nơi cư trú chung là tại Hàn Quốc,  chị gái chị nên làm đơn gửi lên cơ quan có thẩm quyền tại Hàn Quốc yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình và chị gái chị sẽ tìm hiểu xem pháp luật tại Hàn Quốc quy định về trình tự, thủ tục giải quyết một vụ việc ly hôn là như thế nào để áp dụng theo quy định của pháp luật Hàn Quốc. 
Sau khi Tòa án Hàn Quốc đã ra bản án quyết định cho chị gái chị ly hôn thì chị gái chị sẽ mang quyết định của Tòa án Hàn Quốc cho phép vợ chồng chị gái chị ly hôn sau đó gửi lên Tòa án tại Việt Nam yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án này tại Việt Nam. 

Theo quy định tại điều 344 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004:

"Điều 344. Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

1. Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu.

2. Đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam".

Những giấy tờ mà chị gái chị cần phải chuẩn bị bao gồm:

- Đơn yêu cầu công nhận: Đơn phải đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 350, khoản 1 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Bản sao hợp pháp bản án, quyết định của Toà án nước ngoài;

- Văn bản xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam trừ trường hợp trong bản án, quyết định đó đã thể hiện rõ những điểm này;

- Văn bản xác nhận việc đã gửi cho người phải thi hành bản sao bản án, quyết định đó. Trường hợp người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó vắng mặt tại phiên tòa của Toà án nước ngoài thì phải có văn bản xác nhận người đó đã được triệu tập hợp lệ;

Đơn và các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Hồ sơ này chị gái chị sẽ nộp xuống Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi chị gái chị đăng ký thường trú tại Việt Nam để yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án tại Việt Nam.

Nếu có yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết việc ly hôn.

Còn nếu chị gái chị muốn gửi đơn lên Tòa án tại Việt Nam yêu cầu giải quyết việc ly hôn thì chị gái chị phải có mặt tại Việt Nam vào thời điểm làm đơn yêu cầu hoặc vào thời điểm Tòa án tiến hành thụ lý đơn yêu cầu. Theo quy định tại phần thứ nhất, khoản 4, mục 4.1, điểm a Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung"của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004:

"4. Về khoản 3 Điều 33 của BLTTDS

4.1. Đương sự ở nước ngoài bao gồm:

a) Đương sự là cá nhân không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam mà không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự; đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự hoặc đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án".

Sau khi đã ly hôn, chị gái chị có được tiếp tục ở lại Hàn Quốc không sẽ phụ thuộc vào quy định của pháp luật Hàn Quốc.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê