1. Chồng không được ly hôn khi vợ mang bầu ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Tôi muốn biết con được bao nhiêu tuổi thì tòa mới xét cho vợ chồng ly hôn? Trong trường hợp có 2 con, đứa thứ hai chưa đủ tuổi theo quy định nhưng hai vợ chồng thỏa thuận mỗi người nuôi một cháu thì tòa án giải quyết thế nào?. (Thanh Vân, Đồng Nai)

Một số mẫu văn bản áp dụng cho thủ tục ly hôn

1. Mẫu đơn xin ly hôn;

2. Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

3. Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương;

4. Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư: Lê Minh Trường - Hướng dẫn quyền nuôi con sau ly hôn - Cafe Sáng với VTV3

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn”.

Với quy định nói trên, chỉ trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng mới bị hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn. Trong trường hợp này, tòa án sẽ không thụ lý đơn xin ly hôn của người chồng. Người chồng phải đợi đến khi người vợ sinh con xong và đứa trẻ trên 12 tháng tuổi mới được tiếp tục xin ly hôn.

Tuy nhiên, quy định này chỉ hạn chế quyền ly hôn của người chồng, có nghĩa là nếu người vợ làm đơn xin ly hôn, mặc dù đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, thì tòa án vẫn thụ lý, giải quyết như những trường hợp bình thường khác.

Trân trọng./.

2. Chia tài sản cho con thành niên khi bố mẹ ly hôn ?

Chào luật sư Minh Khuê. Luật sư cho tôi hỏi, các con độ tuổi 20-25 (Đang học đại học) là con chung khi bố mẹ ly hôn các con có được chia tài sản không ? Nếu có thì chia như thế nào ?

Khi ly hôn, tài sản được chia như thế nào?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."

-> Như vậy, căn cứ vào quy định trên, khi ly hôn, việc chia tài sản do bố mẹ tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

Và tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, tức là không bắt buộc phải chia cho các con. Nhưng nếu bố mẹ thỏa thuận sẽ cho toàn bộ hoặc một phần tài sản cho con. Và việc tặng cho tài sản này phải lập thành hợp đồng tặng cho có công chứng chứng thực theo quy định pháp luât, thì con sẽ có quyền sở hữu phần tài sản được tặng cho đó.

Hay trong trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình mà tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, con có tên trong sổ hộ khẩu thì sẽ có quyền sở hữu ngang với bố mẹ bạn và khi bố mẹ ly hôn thì các con mới được xem xét giải quyết để chia tài sản.

Nhưng nếu tất cả tài sản chỉ đứng tên bố mẹ thì khi bố mẹ ly hôn, các con sẽ không được chia khối tài sản này.

Những điều cần lưu ý: Nếu như các con có căn cứ chứng minh công sức đóng góp của mình trong khối tài sản chung thì các con có quyền phân chia tài sản đó.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn phân chia tài sản theo di chúc của ông bà để lại khi bố mẹ ly hôn ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Mất toàn bộ giấy tờ hôn thú có ly hôn được không ?

Xin chào Công ty luật Minh Khuê, hiện tại em muốn làm thủ tục ly hôn đơn phương nhưng em lại không có một số giấy tờ, cụ thể là không có CMND và Hộ khẩu photo của vợ vì hiện tại thì em cũng không biết họ đang ở đâu và làm gì. Em không liên lạc được với họ, về quê thì cũng không gặp được. Vậy công ty cho em xin ý kiến tư vấn, bây giờ em muốn hoàn thành thủ tục ly hôn đơn phương thì phải làm như thế nào ạ? Cảm ơn!

Tư vấn thủ tục ly hôn, đơn ly hôn, nộp đơn ly hôn ở đâu ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo như dữ liệu bạn đưa ra thì bạn không có chứng minh thư nhân dân và sổ hộ khẩu của vợ bạn, trong trường hợp này, bạn có thể liên hệ với cơ quan công an nơi vợ bạn thường trú để xin xác nhận.

Đối với trường hợp này, chúng tôi có khá nhiều bài viết liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Chồng giữ hết giấy tờ gốc có ly hôn được không?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Ly hôn khi không biết một bên đang ở đâu ?

Kính chào Luật Minh Khuê. Em có câu hỏi mong được giải đáp như sau: Em và chồng sống chung được 8 năm có hai con,qua thơi gian chung sống có rất nhiều mâu thuẩn, lỗi ở chồng em nhiều,nhưng không quan trọng vì giờ em cần luật sư tư vấn giúp e được ly hôn dứt khoát nhanh chóng.

Nguyên em và anh ấy tháng 6 năm 2014 có thỏa thuận viết đơn ly hôn và chồng em đã nhận 50 triệu trên đơn cũng có thể hiện số tiền và hứa sẽ không thắc mắc khiếu nại về sau,con thì để em nuôi,tài sản không có, nợ cũng không.Nhưng khi em đưa đơn ra tòa giải quyết dứt khoát thì anh ấy hẹn và hứa sẽ xuống tòa ký rất nhiều lần,mà không xuống rồi bỏ đi với người khác từ tháng 7 năm 2014 đến nay. Giờ em có nhu cầu tòa giải quyết thì tòa yêu cầu phải kêu anh ấy về mới được nếu không thì phải mất hai năm tuyên bố mất tich rồi mới giải quyết, trong khi hiện giờ không biết anh ấy ở đâu, nhà ba mẹ anh ấy thì ở cùng địa phương với em. Nhưng khi liên hệ ba mẹ anh ấy hỏi thì họ nói cọc cằn nói không biết gì, em tin họ biết nhưng không chịu nói, hộ khẩu anh ấy vẫn còn nằm trong hộ của gđ cùng địa phương với e,e xin luật sư hướng dẫn em pải làm gì để giải quyết nhanh và xin cho e biết nếu trường hợp vậy thì theo luật tòa phải giải quyết như thế nào, để tòa cứ nói phải kêu anh ấy về mới giải quyết được, em nghĩ thì cũng phải có điều khoản nào đó quy định . không lẽ không biết anh ấy ở đâu thì mình phải chờ đợi vậy luôn ,mà tòa thì trả lời như vậy nên e xin luật sư hướng dẫn dùm em biết trường hợp vậy đúng luật sẽ được giải quyết như thế nào xin hướng dẫn cho em để được giải quyết nhanh ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Ly hôn khi không biết một bên đang ở đâu ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân : 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Trường hợp của bạn ban đầu là hai vợ chồng thuận tình ly hôn và yêu cầu tòa án công nhận. Nhưng sau đó chồng chị đã bỏ đi mà không đến tòa để giải quyết. trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn ly hôn theo yêu cầu của một bên hay còn gọi là đơn phương ly hôn. Lúc này tư cách của bạn sẽ trở thành nguyên đơn trong vụ án.

Áp dụng Khoản 1 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

Nếu không biết chồng đang ở đâu, bạn có thể áp dụng biện pháp tìm kiếm, nếu chồng bạn đã biệt tích từ 6 tháng trở lên, bạn có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú cuối cùng thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Nếu vẫn không có tin tức gì thì sau 2 năm kể từ ngày người đó biệt tích thì bạn có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích và thực hiện thủ tục ly hôn với người mất tích. Cụ thể. Theo Luật dân sự 2005.

"Điều 78. Tuyên bố một người mất tích

1. Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn."

Theo luật tố tụng dân sự

Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

Điều 330. Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.
2. Đơn yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất tích phải có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 312 của Bộ luật này.
3. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm. Trong trường hợp trước đó đã có quyết định của Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó

Như vậy căn cứ theo Điều 56 luật hôn nhân gia đình bạn chỉ có thể yêu cầu tòa án xin ly hôn đơn phương khi thuộc một trong ba trường hợp trên. Do hiện tại bạn không biết chồng mình ở đâu nên chỉ có thể yêu cầu tòa án cho ly hôn đơn phương khi chồng bạn bị tuyên bố mất tích.

Tuy nhiên điều kiện để tuyên bố một người là mất tích đó là một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết. Vậy chồng bạn mới chỉ biệt tích 1 năm kể từ khi ly thân nên chưa đủ điều kiện để tuyên bố mất tích cũng có nghĩa là bạn chưa có đủ điều kiện theo pháp luật để yêu cầu tòa án cho ly hôn.

Trong trường hợp này bạn có thể đợi đến khi hết thời hạn hai năm nếu chồng bạn không quay trở về bạn có thể tiến hành các thủ tục tuyên bố một người là mất tích. Đơn yêu cầu một người mất tích được quy định tại điều 330 BLTTDS, bạn sẽ nộp đơn này tại TAND có thẩm quyền theo điểm 1 khoản 1 điều 36 Luật TTDS. Sau khi có quyết định tuyên bố một người là mất tích bạn có thể xin giải quyết ly hôn đơn phương theo quy định của pháp luật.

Hồ sơ đơn phương ly hôn gồm:

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của vợ và chồng (nguyên đơn và bị đơn) (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của nguyên đơn và bị đơn;

- Đơn xin ly hôn (Theo mẫu)

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

Sau khi bạn chuẩn bị đầy đủ hồ sơ ly hôn đơn phương, bạn cần nộp đến tòa án có thẩm quyền như đã nêu trên để được giải quyết.

Thời hạn giải quyết đơn phương ly hôn:

Trường hợp bạn đơn phương xin ly hôn, theo quy định của Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thời gian chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Trong thời hạn 01 tháng kế từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn này là 02 tháng.

Nếu trong thời hạn hai năm chồng bạn quay trở về và đồng ý thuận tình ly hôn thì hai bạn sẽ làm đơn yêu cầu tòa án công nhận thuận tình ly hôn, nếu chồng bạn không đồng ý ly hôn thì bạn có thể làm thủ tục ly hôn đơn phương.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua tổng đài: 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng./.

5. Có thể vắng mặt tại phiên xử ly hôn

"Trong trường hợp không có điều kiện về Việt Nam, bạn vẫn có thể gửi đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn qua đường bưu điện và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Theo điểm c, khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình thì Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài. Trong trường hợp hai người không cư trú cùng một địa chỉ thì Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cư trú của bị đơn có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn.

Với các quy định nói trên, bạn phải gửi đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn đến Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố nơi vợ bạn đang cư trú để được xem xét và giải quyết.

Các tài liệu gửi đến tòa án gồm có: Đơn xin ly hôn (trong đó phải trình bày đầy đủ các vấn đề như mâu thuẫn trong thời gian chung sống và mâu thuẫn đó là không thể giải quyết được; địa chỉ chính xác của người ở nước ngoài và người ở trong nước…); giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; bản sao hợp lệ hộ chiếu của người xin ly hôn. Nếu kèm theo việc yêu cầu ly hôn còn có yêu cầu giải quyết về con cái, về tài sản ở Việt Nam thì cần kèm theo Giấy khai sinh của con; giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản…

Về trường hợp người gửi đơn không có điều kiện về Việt Nam: Theo quy định tại Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự về việc gửi đơn khởi kiện thì người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi đến Tòa án qua bưu điện.

Khoản 1, Điều 202 Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định về một số trường hợp Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án khi đương sự vắng mặt. Trong trường hợp nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. Như vậy, trong trường hợp không có điều kiện về Việt Nam, bạn vẫn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn qua đường Bưu điện và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Trân trọng./.

6. Tiền trợ cấp sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi luật mới nhất quy định về bồi thường tiền nuôi dưỡng con từ khi đẻ đến 18 tuổi là bao nhiêu 1 tháng ? Người hỏi: Sềnh Cứ

Tiền trợ cấp sau khi ly hôn?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162


Trả lời:

Theo Điều 92, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định:

“1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Và theo Mục 11, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định, “Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn (Điều 92).

Khi áp dụng quy định tại Điều 92 cần chú ý một số điểm sau đây:

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của cha, mẹ; do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

b. Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý.

c. Về phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng”.

Như vậy, theo quy định này tiền cấp dưỡng nuôi con không có quy định mức cụ thể mà bên không trực tiếp nuôi con phải đóng góp. Mức cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn sẽ dựa trên sự thỏa thuận của hai bên, nếu không thỏa thuận được thì sẽ nhờ Tòa án quyết định. Khi Tòa án quyết định mức tiền cấp dưỡng sẽ cân nhắc tới điều kiện của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, tình hình thực tế của đời sống sinh hoạt của cháu đến năm 18 tuổi; Tòa án cũng sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường không cao hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình;