Đất có chủ quyền,mọi giao dịch mua bán được công chứng đầy đủ.Gần đây con rể tôi vô cớ sinh chuyện và lén lấy toàn bộ hồ sơ giấy tờ mà tôi gửi địa chính xã nhờ sang tên cho con rể tôi.Hồ sơ giấy tờ gồm: 1. Sổ chủ quyền đất đứng tên chủ đất cũ; 2.Giấy đăng ký kêt hôn; 3.Hộ khẩu của hai đứa (đã chuyển về thường trú tại địa chỉ miếng đất vừa mua);4.Toàn bộ hồ sơ công chứng mua bán đất.Hiện con rể tôi đã bỏ đi 15 ngày và gọi điện về đòi bán miếng đất trên, bảo con gái tôi phải theo về ở nhà bố mẹ chồng.Vậy mong Luật sư tư vấn giúp tôi: 1. Liệu con rể tôi có thể dung số giấy tờ trên để mua bán hay cầm cố được không và con gái tôi có cần trình báo công an?; 2. Hiện con tôi đang nuôi con nhỏ nhưng bên chồng không hề cung cấp hay thăm nom gì, nếu con tôi không đồng ý ly hôn thì vấn đề không trọ cấp nuôi con của con rể tôi có vi phạm luật hôn nhân gia đình không? ;3. Mảnh đất đó chưa sang tên được cho con rể hay con gái tôi, vậy con gái tôi phải làm gì để nhờ chính quyền thu hồi giấy tờ kia lại?; 4. Nếu bên chồng con tôi quyết định đơn phương ly hôn thì tài sản sẽ phân chia như thế nào?; 5. Thời gian con rể tôi bỏ đi cho đến ngày ly hôn không trợ cấp nuôi con luật pháp có tính không và làm cách nào để con tôi có bằng chứng pháp lý về vấn đề này? Gia đình tôi xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân công ty Luật Minh khuê. 

Chồng lấy giấy tờ mua bán đất rồi bỏ đi?

Luật sư tư vấn Luật Hôn nhân gia đình : 1900.6162

Trả lời:

 

Công ty Luật Minh Khuê chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tới công ty chúng tôi. Thắc mắc của bạn chúng tôi giải đáp như sau

Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai năm 2013

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Nội dung tư vấn:

Vấn đề 1:

Khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ 2014 quy định:

 “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
 
 Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”
 
Tiếp đó, khoản 1 Điều 34 luật này quy định “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”
 

Theo quy định trên nếu không có giấy tờ chứng minh có sự thỏa thuận về việc đứng tên riêng về quyền sử dụng đất thì tài sản là bất động sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng con bạn.
 
 Tại  điều 35 quy định về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung như sau;

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
 
Theo đó, mặc dù con rể bạn đã cầm đầy đủ giấy tờ về quyền sử dụng đất hợp đồng mua bán đã công chứng nhưng con rể bạn chưa được sang tên đứng tên quyền sử dụng đất mà hợp đồng chuyển nhượng đó vẫn do 2 vợ chồng đứng tên thì chồng của con bạn muốn làm hợp đồng bán, tặng cho tài sản hay cầm cố tài sản trên thì phải được sự đồng ý của người vợ, thỏa thuận này phải lập thành văn bản thì mới thực hiện được.Hợp đồng chuyển nhượng, cầm cố do một mình anh ký  chỉ có hiệu lực khi được sự ủy quyền của người vợ để anh đứng ra đại diện ký kết hợp đồng vì đây là giao dịch liên quan đến tài sản bắt buộc phải có sự đồng ý của hai vợ chồng (Khoản 3 Điều 24 LHNGĐ 2014).Do đó con gái bạn không nhất thiết phải trình báo với cô quan công an vì mọi giao dịch anh thực hiện đều vô hiệu do không có sự đồng ý của con gái bạn.

Vấn đề 2:

 Tại  điều 110 luật hôn nhân và gia đình có quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:

 Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Theo khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định như sau:

“Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác”.

Trường hợp của con  bạn thì do con rể không sống chung với con gái bạn nên có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho cháu của bạn nếu cháu chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có  tài sản để tự nuôi mình ,vì vậy khi con rể bạn không thực hiện cấp dưỡng hay có ý trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng có nghĩa là đã vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng khi vi phạm thì con gái  bạn  “có quyền yêu cầu tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó”, theo quy định tại khoản 1 Điều 119.

Theo quy định tại Điều 152 Bộ luật hình sự 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự,… không quy định trực tiếp biện pháp xử phạt đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên hành vi này được quy định chung tại điểm a khoản 3 Điều 52 Nghị định 110/2013/NĐ - CP. Theo đó, hành vi “không thực hiện công việc phải làm… theo bản án, quyết định” của tòa án có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

Vấn đề 3:

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai.

Theo quy định tại điều luật trên thì trường hợp của con bạn không thuộc 1 trong những trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi lại các giấy tờ đã cấp nên không có cách nào để thu hồi lại các giấy tờ mà con rể bạn đang cầm cả.

Vấn đề 4:

Ly hôn đơn phương là việc ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ/chồng, tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Theo điều 59 luật hôn nhân và gia đình quy định về nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này

Theo quy định tại điều này thì tài sản chung của hai vợ chồng con bạn sẽ chia theo thỏa thuận của hai bên trường hợp nếu hai bên không thỏa thuận đươc thì tòa sẽ chia đôi và có tính đến các yếu tố theo quy định tại khoản 2 điều luật trên.

Vấn đề 5:

Trong thời gian con rể bạn bỏ đi cho đến ngày ly hôn không trợ cấp nuôi con  thì đã vi phạm vào nghĩa vụ cấp dưỡng như đã phân tích tại vấn đề 2 trên do đó khi không trợ cấp thì giữa con gái bạn và con rể không có giấy tờ cũng như chứng cứ gì chứng minh việc người chồng đã trợ cấp cho con nên khi đưa ra cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì mặc dù không có chứng cứ hoặc bên con rể bạn không có điều gì để chứng minh được là đã trợ cấp thì cơ quan giải quyết vẫn phạt những ngày không trợ cấp để bảo vệ quyền và lợi ích của con gái cũng như của cháu bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hôn nhân.