Khi ly hôn, anh đó đã nhận nuôi 2 đứa nhỏ. Hiện nay sổ hộ khẩu của gia đình anh đó đã bị thất lạc. Tôi và cô ấy sau này đã yêu nhau và chung sống với nhau nhưng ko kết hôn, chúng tôi đã có một đứa con trai, sau đó chúng tôi ly thân nhau và đứa con đang sống với tôi, cháu bé đến nay vẫn chưa có giấy khai sinh. 2 năm nay cô ấy không hỏi gì đến con, tôi đã đi tìm và được biết hiện nay cô ấy đang đi lao động ở một công ty dệt ở Đài Bắc - Đài Loan với hợp đồng lao động 3 năm, đến nay đã làm được gần 2 năm nhưng tôi được biết cô ấy có quan hệ tình cảm lăng nhăng với nhiều người, có ý định muốn bỏ trốn khỏi công ty và kết hôn với người Đài Loan. Hiện nay cháu bé trai con của chúng tôi đã sắp đến tuổi đi học tiểu học nhưng vẫn chưa có giấy khai sinh nên sẽ không làm được thủ tục nhập học. Tôi đã gia sức khuyên mẹ cháu về nước để lo giấy tờ cho con nhưng cô ấy không chịu và tỏ ra vô trách nhiệm. Nay tôi viết thư này xin được hỏi một số trường hợp sau

Trường hợp 1: Do ngày trước đi lao động Đài Loan cô ấy đã không công khai việc có con riêng với tôi và chưa làm giấy khai sinh cho cháu, nên bây giờ tôi có thể viết đơn khiếu nại lên văn phòng Đài Bắc tại Hà Nội để buộc cô ấy chấm dứt hợp đồng lao động và về nước làm giấy tờ cho con được không ? Và tôi cần làm những thủ tục gì ?

Trường hợp 2: Nếu cô ấy về nước nhưng làm thủ tục để kết hôn với người Đài Loan thì với tình trạng chưa tách hộ khẩu cũ cô ấy có thể làm thủ tục kết hôn được không ? Và khi cô ấy chưa làm xong thủ tục khai sinh cho con chúng tôi thì tôi có thể khiếu nại lên văn phòng đài bắc để đình chỉ việc cấp VISA kết hôn cho cô ấy được ko ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân gia đình công ty luật Minh Khuê.

Chưa tách hộ khẩu cũ có thể làm thủ tục kết hôn hay không ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả Lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 72/2006/QH11 của Quốc hội 

Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch 

Nội dung phân tích:

Trước  hết việc chị N đi lao động tại Đài Loan phải làm rõ xem chị N đi theo hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài hay đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân.

Trường hợp người lao động theo hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài:

- Theo điều 42, 43 luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

"Điều 42. Điều kiện để người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài

Người lao động được đi làm việc ở nước ngoài khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

2. Tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài;

3. Có ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức tốt;

4. Đủ sức khoẻ theo quy định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động;

5. Đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề và các điều kiện khác theo yêu cầu của nước tiếp nhận người lao động;

6. Được cấp chứng chỉ về bồi dưỡng kiến thức cần thiết;

7. Không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam."

"Điều 43. Hồ sơ đi làm việc ở nước ngoài

1. Người lao động có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài phải nộp hồ sơ đi làm việc ở nước ngoài cho doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa đi làm việc ở nước ngoài.

2. Hồ sơ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài gồm có:

a) Đơn đi làm việc ở nước ngoài;

b) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người lao động và nhận xét về ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức;

c) Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp;

d) Văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ, chuyên môn, tay nghề và chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức cần thiết;

đ) Giấy tờ khác theo yêu cầu của bên tiếp nhận lao động."

Trường hợp người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân:

- Theo điều 50, 51, 52 luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

"Điều 50. Điều kiện đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng cá nhân

Người lao động được đi làm việc ở nước ngoài theo Hợp đồng cá nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 7 Điều 42 của Luật này;

2. Có Hợp đồng cá nhân theo quy định tại Điều 51 của Luật này;

3. Có Giấy xác nhận việc đăng ký Hợp đồng cá nhân của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người lao động thường trú."

"Điều 51. Hợp đồng cá nhân

1. Hợp đồng cá nhân phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc.

2. Hợp đồng cá nhân bao gồm những nội dung chính sau đây:

a) Ngành, nghề, công việc phải làm;

b) Thời hạn của hợp đồng;

c) Địa điểm làm việc;

d) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

đ) Tiền lương, tiền công; tiền làm thêm giờ;

e) Chế độ khám bệnh, chữa bệnh;

g) Chế độ bảo hiểm xã hội;

h) Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong trường hợp người lao động chết trong thời gian làm việc ở nước ngoài;

i) Giải quyết tranh chấp."

"Điều 52. Hồ sơ, thủ tục đăng ký Hợp đồng cá nhân

1. Hồ sơ đăng ký Hợp đồng cá nhân với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi người lao động thường trú bao gồm:

a) Đơn đăng ký kèm theo bản sao Hợp đồng cá nhân, có bản dịch bằng tiếng Việt;

b) Bản chụp Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu;

c) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người lao động thường trú hoặc của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người lao động và nhận xét về ý thức chấp hành pháp luật, tư cách đạo đức.

2. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp Giấy xác nhận việc đăng ký Hợp đồng cá nhân cho người lao động, nếu không chấp thuận phải trả lời và nêu rõ lý do bằng văn bản.

Giấy xác nhận việc đăng ký Hợp đồng cá nhân phải được xuất trình khi người lao động làm thủ tục xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài."

Theo đó thì ở cả 2 loại hợp đồng lao động ở nước ngoài không có quy định vấn đề cần phải khai việc có con riêng hay không. Do đó không thể yêu cầu chấm dứt hợp đồng lao động của chị N với công ty dệt ở Đài Bắc - Đài Loan.

2. Trong trường hợp này chị N đã ly hôn với người chồng hợp pháp và chị N chưa tách khẩu được do nguyên nhân gia đình chồng trước hộ khẩu bị mất thì căn cư theo nghị định 126/2014/NĐ-CP thì khi chị N chưa tách khẩu khỏi gia đình chồng trước do sổ hộ khẩu bị thất lạc thì chị vẫn có thể kết hôn với người Đài Loan, nếu chị N có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

-  Nếu chị N kết hôn với người Đài Loan tại Việt Nam, Theo khoản 1 điều 18 Nghị định 158/2005/NĐ-CP:

"Điều 18. Thủ tục đăng ký kết hôn

1. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân.

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Chương V của Nghị định này.

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận."

-Nếu chị N về nước để chuẩn bị hồ sơ kết hôn với người Đài Loan tại nước ngoài thì thực hiện thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người nước ngoài quy định tại Điều 27, 28 Nghị định 126/2014/NĐ-CP.

Do bạn và chị N không phải vợ chồng hợp pháp theo quy định của pháp luật nên bạn không có quyền khiếu nại để đình chỉ việc cấp VISA kết hôn của chị N.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email  hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân gia đình.