Vợ chồng tôi sống chung đã tròn 20 năm nhưng có đăng ký kết hôn và có tài sản chung là 1 căn nhà do 2 vợ chồng xây dựng nhưng đứng tên là mẹ đẻ tôi ,bây giờ muốn ly hôn vậy vợ tôi có được quyền chia tài sản khi ly hôn không?

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hoàn

Email: hoan...@gmail.com

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân  của công ty luật Minh Khuê.

Có được chia tài sản chung đứng tên người khác khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn trực tiếp luật hôn nhân gia đình, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty luật Minh Khuê, thắc mắc của bạn sẽ được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý

Luật đất đai số 45/2013/QH13 

Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 

Luật hôn nhân gia đình số 52/2014/QH13 

Nội dung tư vấn

Do mẹ bạn đã đứng tên căn nhà trên nên mẹ bạn là người có quyền sở hữu hợp pháp căn nhà đó. Có nghĩa là về mặt pháp lý, căn nhà đó không phải là tài sản chung của hai vợ chồng.

Trên thực tế, đó là tài sản chung của hai vợ chồng nên nếu đưa ra được các chứng cứ chứng minh mẹ bạn đứng tên căn nhà đó nhưng không phải là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà đó như giấy cam kết cho mẹ bạn đứng tên hộ hoặc hợp đồng mua bán nhà ở… thì có thể làm đơn khởi kiện ra toà án nhân dân cấp huyện nơi có nhà ở để đòi quyền sở hữu nhà ở. Bởi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung thì:

“Điều 33. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;”

Khoản 2 Điều 25 Bộ luật này có quy đinh: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Theo điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật này thì toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về bất động sản.

Để yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì cần phải đưa ra được các căn cứ để chứng minh. Vấn đề này được quy định tại khoản 1 Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

“Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.”

Nếu các căn cứ chứng minh căn nhà trên là tài sản chung của vợ chồng bạn là đúng thì Toà án sẽ xem xét,giải quyết trả lại căn nhà cho vợ chồng bạn. Khi đó, căn nhà sẽ nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Việc chia tài sản là căn nhà trên của vợ chồng sẽ được tiến hành theo nguyên tắc chung quy định tại khoản 1,2,3 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch […]”

Như vậy, vợ bạn có quyền được chia căn nhà là tài sản chung đứng tên mẹ bạn khi ly hôn nếu như có căn cứ chứng minh căn nhà đó là tài sản chung của vợ chồng.

Trên đây là những giải đáp, tư vấn từ phía Công ty Luật Minh Khuê cho câu hỏi của Quý khách hàng. Nếu còn có điều gì thắc mắc, mời Quý khách hàng vui lòng gửi thư theo địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc gọi điện trực tiếp đến tổng đài 1900.6162 để được giải đáp nhanh chóng và chính xác nhất.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT- CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.