Trong những năm đầu kết hôn, tôi đi làm vất vả với cái bụng bầu để có nguồn tài chính cho anh ấy đi học Thạc sỹ ở nước ngoài 3 năm. Cho đến nay, khi về nước và ổn định công việc, anh ấy không hề có một chút suy nghĩ nào cho gia đình mà chỉ có ăn chơi, bồ bịch, trai gái triền miên. Khiến tôi vô cùng mệt mỏi, cảm thấy bức xúc, cảm thấy bất công cho những gì mình đã làm cho anh ta. Giờ tôi thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân được nữa và đã làm đơn xin ly hôn tại Tòa, nhưng tôi muốn anh ta phải bù đắp, bồi thường cho tôi trong thời thanh xuân đã hết mình vì anh ấy có được không?  

Xin cảm ơn Luật sư

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi:   1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC

2. Luật sư tư vấn:

Hiện nay, pháp luật hiện hành hoàn toàn chưa có quy định cụ thể về việc đền bù tuổi thanh xuân cho một trong hai vợ chồng khi ly hôn nên việc yêu cầu giải quyết là không có cơ sở và căn cứ để giải quyết. Tuy nhiên, trên thực tế hai vợ chồng vẫn có thể tự thỏa thuận để bồi thường "tuổi thanh xuân" cho nhau.

Trong trường hợp của chị, để giúp chị không bị thiệt thòi khi lập cuộc sống mới, giải quyết những khó khăn sau khi ly hôn vì vậy Tòa án giải quyết công sức đóng góp, duy trì cuộc sống gia đình, lỗi của các bên cụ thể được quy định tại khoản 2 điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

"Điều 59: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

Tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn chi tiết nguyên tắc này như sau:

"Điều 7. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn 

4. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia: 

a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn. 

c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự. 

Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng. 

d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. "
 

Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên."

Như vậy, theo nguyên tắc trên mặc dù pháp luật hiện hành chưa có quy định chi tiết cho việc đền bù tuổi thanh xuân của chị, nhưng khi Tòa án giải quyết việc ly hôn, chị cần cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh chồng chị ngoại tình, không quan tâm tới gia đình và việc quan tâm chăm sóc các con, xây dựng kinh tế đóng góp nhiều hơn vào cuộc sống v.v... thì chị sẽ được bảo đảm về quyền và lợi ích cho mình.

Rất mong nhận được sự hợp tác!Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Có được yêu cầu chồng bồi thường cho tuổi thanh xuân của mình sau khi ly hôn không?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số:  1900 6162  để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê