Doạ sẽ kiện chúng tôi, mặc dù anh ấy vẫn cấp dưỡng và có trách nhiệm với con của họ. Vậy cho tôi hỏi theo luật tôi có phạm pháp không khi quen anh ấy? Và nếu anh ấy muốn kết hôn với tôi thì phải làm như thế nào? Chúng tôi có vi phạm luật nào không? Mong sớm nhận được phản hồi từ quý luật sư, tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về đăng ký kết hôn như sau:

"Điều 9. Đăng ký kết hôn
1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.
2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn."

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp, chồng bạn có tổ chức đám cưới với một người khác trước khi cưới bạn, anh ấy và người kia đã có con chung, tuy nhiên, hai người họ lại không đăng ký kết hôn. Theo đó, giữa chồng bạn và người kia mặc dù có tổ chức đám cưới nhưng vẫn không có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật vì không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Cũng theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn."

Như vậy, giữa chồng bạn và người kia chưa đáp ứng quy định là phải đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, do đó, giữa họ không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Chính vì vậy, bạn và chồng bạn hiện nay vẫn có thể kết hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế đối với Việt Nam, có thể một số trường hợp không đăng ký kết hôn nhưng vẫn có thể được cơ quan nhà nước công nhận việc kết hôn khi họ chung sống với nhau như vợ chồng, cũng như thực hiện theo phong tục, tập quán của dân tộc họ, đồng thời họ cũng phải đáp ứng một số quy định của pháp luật mới được công nhận. Bạn không nói rõ là chồng bạn và người kia đã kết hôn từ khi nào? Sau bao lâu thì chia tay hay không sống chung với nhau? Và hai bạn có đang chung sống như vợ chồng với nhau hay không?

Chính vì vậy, trong trường hợp này, bạn muốn đăng ký kết hôn với chồng bạn thì bạn cần yêu cầu chồng bạn giải quyết được vấn đề vướng mắc với người anh ấy đã cưới trước đây, có thể là yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ hôn nhân giữa hai người họ, sau đó, chính thức đăng ký kết hôn với bạn, để tránh trường hợp, người kia xúc phạm hoặc gây khó khăn cho bạn.

Trong trường hợp, người phụ nữ kia luôn xúc phạm, chửi bới danh dự, nhân phẩm của bạn thì bạn có quyền nộp đơn Tố giác tội phạm người này với Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc về Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tùy từng hành vi của người này:

"Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 156. Tội vu khống
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

..."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê