Hiện tại bé đã được 2 tuổi rưỡi nhưng em không dám làm gíây khai sinh cho bé. Gia đình em không có ý kiện anh ấy và dự định khi em đủ 18 tuổi sẽ tổ chức đám cưới cho chúng em. Vậy khi đó em làm giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh cho bé thì anh ấy có bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa không? Em có phải khai giảm tuổi bé xuống không? Và bé có bị ảnh hưởng việc học sau này không vì em nghe nói sau khi đăng kí kết hôn thì 1 năm sau mới được làm giấy khai sinh cho bé và phải khai giảm 3, 4 tuổi so với tuổi thật của bé nếu không ba bé sẽ bị phạt 12 năm tù và 30 triệu đồng.

Em xin cảm ơn.

Người gửi: N.Q.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Cơ sở  pháp lý

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009  

Nghị định 158/2005/NĐ-CP Về đăng ký và quản lý hộ tịch 

Nghị định 06/2012/NĐ-CP  về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực 

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 

Nội dung phân tích

1. Về việc người yêu bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

Trường hợp của bạn như sau: Khi bạn 15 tuổi có quan hệ tình dục với anh 20 tuổi và có em bé như vậy thì căn cứ bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 thì người yêu bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm đ, khoản 2, điều 115, cụ thể:

"Điều 115. Tội giao cấu với trẻ em  

1.  Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội."

Dấu hiệu nhận biết tội:

+ Chủ thể là người đã thành niên

+ Người phạm tội có hành vi giao cấu (thuận tình) trong độ tuổi từ 13 đến dưới 16 tuổi.Trường hợp này của bạn là hành vi giao cấu có sự đồng tình tự nguyện của trẻ em.

+ Lỗi của người phạm tội là cố ý.Người phạm tội biết người mà mình giao cấu là trẻ em mà vẫn thực hiện.

Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định về quyết định khởi tố vụ án như sau: "1. Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.". Như vậy, người yêu của bạn có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm về tội Giao cấu với trẻ em.

2. Đối với việc khai sinh quá hạn cho bé

Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 158/2005/NĐ-CP, trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em. Nếu việc sinh chưa đăng ký trong thời hạn quy định tại Điều 14 của Nghị định này, thì phải đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh theo quy định tại Điều 13 của Nghị định này thực hiện việc đăng ký khai sinh quá hạn, theo đó:

"1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.

 2. Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh.[...]"

Hồ sơ đăng ký khai sinh quá hạn được lập thành 01 bộ hồ sơ, gồm các giấy tờ sau:

Giấy tờ phải nộp:

- Phiếu cung cấp thông tin đăng ký khai sinh quá hạn (cá nhân tự viết hoặc tham khảo mẫu tại UBND xã, phường, thị trấn nơi đăng ký khai sinh)

- Bản chính Giấy chứng sinh do cơ sở y tế (bệnh viện, trạm y tế, nhà hộ sinh…) nơi trẻ em sinh ra cấp. Nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế thì Giấy chứng sinh được thay bằng:

+ Văn bản xác nhận của người làm chứng (người làm chứng phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và biết rõ sự việc làm chứng; người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của sự việc mà mình làm chứng).

+ Trong trường hợp không có người làm chứng thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Giấy tờ phải xuất trình:

- Bản chính Giấy chứng minh nhân dân; sổ hộ khẩu, Giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc Giấy đăng ký tạm trú có thời hạn của cha, mẹ trẻ em.

Khoản 2, điều 45 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP được sửa đổi bởi nghị định 06/2012/NĐ-CP như sau “2. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký theo từng loại việc và bản chính Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng tử. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng tử.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn xác minh không quá 05 ngày.”

Như vậy bạn vẫn đi đăng ký khai sinh cho bé và không phải khai giảm tuổi cháu.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Rất cảm ơn ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê.

Trận trọng ./. 

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT-CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.