1. Điều kiện để được nhận quyền nuôi con sau khi ly hôn?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi là cán bộ 01 cơ quan nhà nước, có mức lương hàng tháng là 22 triệu VNĐ, sinh năm 1981. Chồng tôi cũng là cán bộ nhà nước, có mức lương hàng tháng là 13 triệu đồng.

Chúng tôi hiện có một bé trai 5 tuổi rưỡi và một bé trai nhỏ hơn 20 tháng tuổi. Tài sản hiện có là 01 ngôi nhà, và các vật dụng trong nhà. Xin phép được hỏi luật sư là nếu ra tòa ly hôn thì tôi có được nuôi cả 2 con không? Nếu để được nuôi cả 02 con thì tôi phải đáp ứng những điều kiện gì, phải có những giấy tờ và bằng chứng gì? Xin cảm ơn!

Người gửi: TPH Nguyen

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tư vấn thủ tục giành quyền nuôi con ky ly hôn - Ảnh minh họa

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc nuôi con sau khi ly hôn thì:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, việc nuôi con sau khi ly hôn, trước hết là do vợ, chồng tự thỏa thuận với nhau sao cho đáp ứng được điều kiện tốt nhất của các con. Nếu không thỏa thuận được thì trong trường hợp của bạn, theo quy định trên thì bạn hoàn toàn có quyền nhận nuôi 2 bé. Trong đó, việc nuôi bé trai dưới 20 tháng tuổi thuộc về bạn. Việc nuôi bé trai 5 tuổi rưỡi sẽ được tòa án căn cứ vào 2 yếu tố chủ yếu sau:

Một là về điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

Hai là các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn… của cha mẹ.

Để dành được quyền nuôi bé trai trên 5 tuổi bạn cần chứng minh được bạn có đủ khả năng về kinh tế, tài chính và có đủ thời gian... để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con. Bạn cũng có thể đưa ra những chứng cứ chứng minh cho việc con nên ở với bạn chứ không phải với chồng bạn qua:

- Bản thống kê lương thu nhập hàng tháng;

- Lối sống đạo đức và những hành vi thể hiện sự quan tâm của bạn dành cho con....

>> Tham khảo thêm: Ai có quyền nuôi con ? Lỡ ký văn bản đồng ý cho chồng nuôi khi ra tòa có quyền thay đổi không?

2. Tư vấn quyền nuôi con sau ly hôn mới nhất?

Xin chào anh chị: em và chồng lấy nhau từ năm 2015, đến 2016 do mâu thuẫn gia đình nên em bỏ nhà đi lúc con em được 07 tháng tuổi. Trong thời gian đó, em cũng không về thăm con lần nào bây giờ em về 2 vợ chồng em quyết định làm đơn ly hôn vậy cho em hỏi:
Bây giờ, em muốn giành quyền nuôi con thì có được phép giành quyền nuôi con không ạ? Con em sinh tháng 02 năm 2016, vậy trong 2 năm qua em không về thăm con cũng không mua sữa gì cho con em chỉ mua được một hai bộ quần áo gửi người ta đưa cho con em, bây giờ em về thì chồng em viết đơn ly hôn. Trong thời gian em ly thân về nhà mẹ đẻ, chồng em có đưa một người phụ nữ khác về sống chung như vợ chồng cho đến nay.
Vậy anh chị cho em hỏi em có được giành quyền nuôi con với chồng em không ạ? Và em có được bồi thường gì không ạ? Xin cảm ơn luật sư!

Tư vấn quyền nuôi con sau ly hôn ?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Theo đó, kể cả sau khi ly hôn hay vợ chồng bạn đang trong thời kỳ hôn nhân thì cả bạn và người chồng của bạn đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con. Theo thông tin mà bạn cung cấp, con của bạn vẫn dưới 36 tháng tuổi (cụ thể 34 tháng tuổi), do đó, bạn được ưu tiên nuôi dưỡng trừ trường hợp bạn không đủ điều kiện nuôi con. Chồng bạn rất có thể sẽ căn cứ vào việc bạn không chăm sóc con suốt 2 năm để làm căn cứ chứng minh bạn không đủ điều kiện nuôi con. Khi đó, để được quyền nuôi con bạn có hai cách để giải quyết:

Thứ nhất: Vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau để bạn là người trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc cháu.

Thứ hai: Trường hợp vợ chồng bạn không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con thì bạn có thể yêu cầu Tòa án cho bạn là người được trực tiếp nuôi con vì bé vẫn dưới 36 tháng tuổi, tuy nhiên Tòa án còn xem xét các yếu tố khác. Cụ thể, tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần để quyết định việc trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng.

Hai phương diện sau đây để quyết định việc trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng:
- Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… mà mỗi bên có thể dành cho con, các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;
- Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn… của cha mẹ.

Do vậy, nếu bạn không thỏa thuận được với chồng bạn về việc để bạn nuôi con, thì chồng bạn vẫn có thể đòi quyền nuôi con mặc dù con bạn vẫn dưới 36 tháng tuổi, vì trong 02 năm qua bạn đã bỏ nhà đi và cũng không về thăm con lần nào (bạn cần chú ý điều này).

Việc trong thời gian bạn ly thân về nhà mẹ đẻ, chồng bạn có đưa một người phụ nữ khác về sống chung như vợ chồng cho đến nay, được quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:

"1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó."

Như vậy, nếu bạn khởi kiện thì chồng bạn có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật, nhưng không có quy định nào về việc một bên đòi bên kia bồi thường thiệt hại về tinh thần do hành vi ngoại tình gây ra.

3. Hỏi về việc chia tài sản, quyền nuôi con khi ly hôn?

Thưa Luật sư, em có câu hỏi mong được giải đáp: Em năm nay 27 tuổi, kết hôn được hơn 02 năm, con em 20 tháng tuổi. Vợ chồng em sống với nhau có thể nói là không hợp, cuộc sống gia đình thường xuyên xảy ra cãi vã. Từ khi lấy chồng em không đi làm mà ở nhà lo nội trợ rồi sinh con, chồng em đi làm và lo về kinh tế là chủ yếu.
Chồng em hay ghen, bài bạc và nhậu nhẹt rồi chửi và đuổi vợ. Do không làm ra tiền nên em cũng có nhiều áp lực về tài chính. Trước đây, em cũng đã gửi đơn ly hôn ra tòa án một lần nhưng vì em phát hiện mình có bầu và gia đình hai bên có khuyên ngăn nên hơn 02 tháng sau em đã xin rút lại đơn không yêu cầu xét xử nữa. Tưởng chừng cuộc sống sẽ khác nhưng khi mang bầu vợ chồng em mệnh ai đấy sống, tiền ai nấy tiêu và vẫn không có tiếng nói chung. Mãi khi sinh con rồi cuộc sống cũng đỡ hơn một ít, rồi lại mẫu thuẫn vợ chồng và chúng em ra ở riêng. Ra ở riêng rồi lại cãi nhau đánh nhau nên em rất mệt mỏi, phải nói là ăn cơm của chồng cũng khó nuốt lắm, nó cay và chát vì vị mặn của nước mắt. Khi con em được 13 tháng em đã đi làm. Em làm thu ngân và pha chế cho quán cà phê của em gái chồng em, nhưng do tính hay ghen tuông nên anh rất ghen và chửi em những câu rất khó nghe, phải nói là em cũng chẳng biết em có phải là vợ của anh không nữa? Lấy nhau về mà em chẳng biết thế nào là hạnh phúc, tối ngày nhắn tin chửi bới và đòi ly hôn. Thực tế mà nói em rất muốn ly hôn để chấm dứt cuộc sống gia đình như vậy rồi.
Chuyện lục đục của vợ chồng em bố mẹ chồng, em chồng và chị chồng em đều biết, vì con trai mình như thế nào, anh em mình như thế nào mọi người đều rõ cả. Hôm nay, em gửi thư cho luật sư tư vấn muốn hỏi rằng nếu bây giờ em ly hôn em có quyền được nuôi con không? Tài sản chung của vợ chồng em có được chia khi ly hôn không? Vợ chồng em có xe máy và một căn nhà nhỏ. Nhà mua có sổ đỏ nhưng chưa sang tên. Tiền mua nhà là tiền vay ngân hàng bằng sổ lương của chồng em. Mong luật sư sớm hồi đáp. Em xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về quyền nuôi con khi ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, sau khi ly hôn, cả bạn và chồng cũ của bạn đều có quyền và nghĩa vụ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp của bạn, con bạn mới 20 tháng tuổi, do đó, bạn là người được trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng bạn được chia theo quy định của pháp luật. Vấn đề chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc chia tài sản sau khi ly hôn phụ thuộc vào thỏa thuận của hai bên, nếu các bên không thể thỏa thuận được với nhau thì Tòa án sẽ gải quyết theo quy định của pháp luật quy định:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Căn cứ vào quy định trên, thông thường đối với các tài sản riêng thì không tiến hành phân chia mà thuộc quyền sở hữu của người có tài sản riêng đó, tài sản chung được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố khác để phù hợp với công sức đóng góp, hoàn cảnh, điều kiện và lỗi của mỗi người.

Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng căn cứ vào các quy định tại Điều 33 và Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Căn cứ vào quy định trên, nếu các tài sản là xe máy, căn hộ, gia đình bạn mua được trong thời kỳ hôn nhân mà chưa tiến hành phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, thông thường các tài sản này được chia đôi dựa trên giá trị của tài sản đó. Người nắm giữ tài sản sẽ phải trả cho người kia một khoản tiền bằng đúng phần giá trị mà họ được nhận.

Tuy nhiên, theo thông tin mà bạn cung cấp, hiện tại căn nhà gia đình bạn đang ở là nhà có sổ đỏ nhưng chưa sang tên tức là hiện tại, gia đình bạn chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, do đó, tòa án sẽ không có căn cứ để phân chia tài sản đối với căn nhà này.

4. Đòi quyền nuôi con khi ly hôn?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi muốn ly hôn với chồng, vì chồng tôi nghiện cờ bạc rất nhiều năm không thay đổi. Vậy trong quá trình ly hôn thì tôi gặp trở ngại gì không khi đòi quyền nuôi con (con tôi 6 tuổi)? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Trinh Thi Thanh

Trả lời:

Để biết được khi ly hôn, việc đòi quyền nuôi con có gặp những trở ngại hay không? Bạn cần căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Theo đó, đối với trường hợp con của bạn mới 06 tuổi, vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về quyền trực tiếp nuôi con. Nếu như không thỏa thuận được, Tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện của vợ và chồng để quyết định ai sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng mà không cần phải căn cứ vào nguyện vọng của con. Khi đó, bạn sẽ phải chứng minh bạn đủ điều kiện nuôi con tốt hơn chồng của mình.

+ Thu nhập hàng tháng (Có đảm bảo để nuôi cháu hay không?)

+ Chỗ ở ổn định (Có đảm bảo để cháu có chỗ ở lâu dài hay không?)

+ Môi trường sống (Có đảm bảo cho sự phát triển cả về tinh thần lẫn thể chất của cháu hay không?)

+ Thời gian làm việc (Bạn có thời gian để chăm sóc cháu hay không?)

+ Sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ giành cho con.

+ Hành vi của cha mẹ ( Có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần và sự phát triển của trẻ).

>> Xem thêm: Tư vấn khởi kiện giành lại quyền nuôi con khi đã ly hôn?

5. Nếu vợ ngoại tình khi ly hôn có quyền nuôi con hay không?

Thưa luật sư, trong thời gian kể từ ngày 27/07/2016 tôi đã tình cờ biết vợ mình đã ngoại tình với người đàn ông khác và còn làm công việc tiếp bia và mua vui cho khách tại quán karaoke.

Nhiều lần tôi khuyên giải cô ấy quay về vì hạnh phúc gia đình và không muốn làm ảnh hưởng đến tương lai của con cái nhưng cô ấy không những không về mà cô ấy còn bỏ trốn đến nơi khác. Chúng tôi đã có với nhau một đứa con gái năm nay đã được 03 tuổi 04 tháng. Tôi thì hiện tại là thợ cắt tóc, thu nhập bình quân một tháng được gần 06 triệu đồng, còn cô ấy thì chưa có công việc ổn định. Vậy nếu như ly hôn tôi có được quyền nuôi con hay không? Mong luật sư tư vấn cách thức viết đơn ly hôn.

Xin cảm ơn luật sư.

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, quyền nuôi con sau khi ly hôn.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội:

Vợ chồng bạn đã có với nhau một bé gái năm nay đã được 03 tuổi 04 tháng. Như vậy, căn cứ vào quy định trên, vợ, chồng bạn sẽ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Khi quyết định người trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ xem xét các điều kiện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tình cảm, đạo đức, phương pháp nuôi dạy con cái, tài chính, chỗ ở,… của cha và mẹ. Những căn cứ này nhằm hướng tới mục đích bảo vệ tốt nhất cho sự phát triển mọi mặt của con.

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Điều 82 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn tại Điều 83 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Thứ hai, cách viết đơn ly hôn.

Vì bạn không nêu là đơn phương ly hôn hay thuận tình ly hôn nên chúng tôi xin gửi bạn cả hahi mẫu đơn dưới đây. Bạn có thể tham khảo mẫu đơn ly hôn tại links sau đây: Mẫu đơn xin ly hôn bản mới nhất

6. Đơn phương ly hôn, tài sản và quyền nuôi con được quy định như thế nào?

Thưa luật sư! Xin luật sư giúp đỡ tôi. Chuyện là tôi đang lao động ở nước ngoài, ở nhà vợ tôi đòi ly hôn mà tôi không đồng ý chỉ vì không muốn các con tôi khổ và tôi vẫn còn yêu vợ tôi. Chỉ còn hai tháng nữa tôi về nước, chuyện vợ chồng tôi thì chỉ vì tôi nóng tính ăn nói lại không khéo nên vợ tôi đòi ly hôn nhưng chưa hề có bạo lực.Thú thật tôi không muốn gia đình tan vỡ xin luật sư giúp tôi có cách nào để níu kéo hạnh phúc. Mẹ vợ tôi mất sớm chỉ còn lại bố già yếu. Vợ chồng tôi sống với gia đình nhà vợ để tiện chăm sóc cho bố cô ấy. Nhưng vì hoàn cảnh nên lúc vợ tôi mang thai cháu thứ ba được 5 tháng thì tôi di xuất khẩu lao động ở Ăngola. Năm đầu thì làm ăn còn tạm được, đến năm 2 thì bên này khủng hoảng kinh tế trầm trọng nên khó khăn. Nhưng từ ngày đi đến nay tôi hoàn toàn gửi tiền về chăm sóc các con không để vốn riêng.

Trong khi sống bố vợ tôi đã giao giấy tờ nhà cửa đứng tên vợ tôi và trong mười năm đó vợ chồng tôi xây dựng và kiến thiết nhiều công trình. Vậy cho tôi hỏi tôi không muốn ly hôn có được không? Và nếu phải xảy ra ly hôn thì tài sản đứng tên vợ tôi sau khi kết hôn có được chia cho tôi không? Nói thật là tôi không tham tài sản vì tình cảm không còn thì tài sản có ý nghĩa gì đâu, nhưng tôi muốn giữ cho các con. Tôi muốn nuôi hai cháu bé còn cháu lớn ở với mẹ có được không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đơn phương ly hôn

Luật sư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, quyền yêu cầu giải quyết ly hôn.

Theo Khoản 1 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn".

Bên cạnh đó, tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia".

Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi: Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần. Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần. Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Vợ bạn có quyền yêu cầu ly hôn khi có dấu hiệu nêu trên theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, giải quyết tài sản của vợ chồng sau ly hôn.

Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này".

Việc chia tài sản của vợ chồng bạn thực hiện theo luật định. Việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định.

Mặt khác, chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình theo Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Theo thông tin bạn cung cấp, trong khi sống bố vợ bạn đã giao giấy tờ nhà cửa đứng tên vợ bạn và trong mười năm đó vợ chồng bạn xây dựng và kiến thiết nhiều công trình. Tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ ba, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn theo Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này".

Theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn thì: Vợ, chồng bạn thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

Nếu con bạn từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Mọi vướng mắc quý khách vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư tư vấn hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê