Gia đình em phản đối không cho kết hôn bởi vì người yêu em là con của cậu bên nội bạn gái. Với lại ông bà đang còn sống và là anh em ruột nên không cho chúng em kết hôn. Cho em hỏi trong tình huống trên em có được kết hôn không? Mong sớm nhận được tư vấn của công ty. Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

2. Chuyên viên tư vấn:

Căn cứ theo khoản 17, 18 và 19 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"17. Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.

18. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.

19. Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời."

Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn và bạn gái yêu nhau đã lâu, hai bạn đều anh em cả hai bên nội và ngoại. Bà nội bạn là chị ruột của bà ngoại bạn gái. Ông ngoại bạn là anh ruột của ông nội bạn gái. Gia đình bạn phản đối không cho kết hôn bởi vì người yêu bạn là con của cậu bên nội bạn gái. Với lại ông bà đang còn sống và là anh em ruột nên không cho hai bạn đăng ký kết hôn. Theo đó, mối quan hệ giữa bạn và bạn gái được xác định trong phạm vi ba đời như sau:

Về phía phạm vi ba đời bên bà nội của bạn:

Đời thứ nhất được xác định là ông cụ và bà cụ sinh ra bà nội bạn và bà ngoại bạn gái.

Đời thứ hai được xác định là bà nội bạn và bà ngoại bạn gái.

Đời thứ ba được xác định là bố bạn và mẹ bạn gái.

Đến đời bạn và bạn gái là đời thứ tư, không còn nằm trong phạm vi ba đời nên hai bạn vẫn có thể kết hôn với nhau theo quy định nếu chỉ mới tính mối quan hệ phạm vi ba đời bên nội của bạn.

Về phía phạm vi ba đời bên ông ngoại của bạn:

Đời thứ nhất là ông cụ và bà cụ sinh ra ông ngoại bạn và ông nội bạn gái.

Đời thứ hai là ông ngoại bạn và ông nội bạn gái.

Đời thứ ba là mẹ bạn và bố bạn gái.

Đến đời của bạn và bạn gái bạn cũng xác định là đời thứ tư. Chính vì vậy, hai bạn cũng không còn nằm trong phạm vi ba đời theo quy định của pháp luật nên hai bạn vẫn có thể kết hôn với nhau nếu đáp ứng được các điều kiện đăng ký kết hôn còn lại theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

- Đủ tuổi kết hôn theo quy định. Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.

- Việc kết hôn do hai bên nam và nữ tự nguyện quyết định không bị ép buộc, cưỡng ép hay lừa dối.

- Cả hai bên nam và nữ không bị mất năng lực hành vi dân sự.

- Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định. Trong đó, các trường hợp cấm kết hôn gồm:

+ Kết hôn giả tạo (là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình);

+ Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn. Trong đó: Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định. Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ. Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.

+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời.

- Việc kết hôn giữa hai bạn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, tức là hai bạn phải đến trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi bạn hoặc bạn gái cư trú để đăng ký kết hôn theo quy định. Trong trường hợp hai bạn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì cuộc hôn nhân giữa hai bạn không có giá trị pháp lý và giữa hai bạn không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Trong trường hợp nếu các thành viên trong gia đình của hai bên ngăn cấm hai bạn kết hôn thì hành vi này có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:

Bị xử phạt vi phạm hành chính nếu có hành vi cản trở kết hôn tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác theo Điều 55 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 181 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cụ thể như sau:

"Điều 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện

Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Chuyên viên tư vấn: Lê Thảo - Bộ phận Hỗ trợ khách hàng - Công ty luật Minh Khuê